phân tích thu ẩm
Bằng phương pháp cất phân đoạn dưới áp suất giảm với cột nhiều đĩa ta có thể thu được các hydrocacbon tương đối tinh khiết. Trong ống tiêm 1ml đáy bằng cân chính xác 60-70 mg tinh dầu cổ ống tiêm lau khô bằng giấy hút ẩm sau đó cho vào ống tiêm 0,4 ml dung dịch hỗn
Cân phân tích độ ẩm MX-50. Nhà sản xuất: AND. Bảo hành:1 năm. Phường Hiệp Bình Phước , TP.Thủ Đức, TP.HCM. Email: info@denshi.vn - info@canphantich.vn ĐT: 028 6682 9171 - 0979 127127 Giờ làm việc: 8h - 17h từ Thứ 2 đến Thứ 6.. GPĐKKD số 0313535846 Sở KHĐT TP.HCM cấp.
Ẩm thực ; Video ; Khuyến nông. Một, sáp nhập 700 nghìn ha vụ thu đông hiện tại vào vụ hè thu. Hai, giảm diện tích vụ thu đông từ 700 nghìn ha xuống 500 nghìn ha, đồng thời, chuyển hơn 800 nghìn ha lúa vụ hè thu sang vụ thu đông. Hầu hết nông dân đều rành việc mua phân
Ta chỉ cần đọc kết quả hiển thị trên màn hình sau khi sấy mà không cần phải tính toán như những cách xác định độ ẩm thủ công. Cách sử dụng: chỉnh bàn cân sao cho bọt thủy về tâm để cân chính xác nhất. Cho mẫu lên cân đến khi đạt khối lượng cần phân tích độ ẩm. Chọn chế độ đo, thời gian và nhiệt độ sấy cần thiết đối với mẫu.
Ta chỉ cần đọc kết quả hiển thị trên màn hình sau khi sấy mà không cần phải tính toán như những cách xác định độ ẩm thủ công. Sau đây, Công ty Tin Cậy sẽ hướng dẫn các thao tác cơ bản trên các loại cân phân tích độ ẩm AND ( máy MF, MX, MS, ML của hãng AND) để quý
Wie Kann Ich Kostenlos Eine Frau Kennenlernen. Hướng dẫn Phân tích bài thơ “Thu ẩm” của Nguyễn Khuyến Bài làm Thu ẩm có nghĩa là mùa thu uống rượu Âm uống, uống rượu. Nó có nghĩa là một trong bài thơ Nôm về mùa thu nổi tiếng của Nguyễn Khuyến Thu điếu Mùa thu câu cá Thu vịnh mùa thu làm thơ và Thu ẩm. Cũng có nhiều bài thơ khác về mùa thu bằng chữ Hán, ba bài này đều in đậm hai nét tiêu biểu cho tâm hồn thơ của tác giả đó là dáng thu, hồn thu của đồng bằng Bắc bộ thời xưa và thắm đượm vào cảnh vật là tâm tư của nhà thơ trước cảnh tình đất nước thời gian ông từ quan về sống ở quê nhà. Tất nhiên, ở mỗi bài là dáng thu riêng và những nét tâm tình riêng. Dáng thu trong Thu vịnh là cái gì cao thăm thẳm xa vời, quen mà hóa lạ. Trời thu thì xanh ngắt những mấy từng; cây tre thu lại chỉ còn một cần trúc; khói phủ thành từng trên mặt nước; song cửa đê mặc ánh trăng vào; hoa năm nay giấu vào hoa năm ngoái, tiếng ngỗng vang trong mơ hồ… Hồn thu như lắng chìm vào bên trong, ấn chứa ở chiều sâu. Dáng thu, hồn thu trong Thu điếu là cái gì cũng như thu mình cho nhỏ bé, cho lặng im Chiếc thuyền câu bé tẻo teo, mặt ao chỉ gọn tí, mảnh lá vàng rơi vèo không thành tiếng, cá quẫy chỉ động nhẹ dưới chăn bèo. Tất cả cùng mọi vật khác đều như im lìm trong một không khí lặng yên, tĩnh mịch của một sự đợi, đợi chờ tưởng như ông câu cũng hóa đá trong tư thế tựa gối ôm cần. Tâm tư cụ Tam Nguyên ngụ trong cái lắng chìm vào bên trong, cái đợi chờ mỏi mòn trong yên lặng như thế. Với lên hai bài thơ thu kia mấy dòng như vậy là mượn chút so sánh để nhìn được rõ hơn dáng thu, hồn thu và tâm tư nhà thơ trong bài Thu ẩm này. Dáng thu, hồn thu, cả tâm tư nhà thơ có khác. Cảnh vật vẫn là cảnh vật ở hai bài thơ kia Từ nhà từ vườn nhìn ra đồng, cái ao, rặng tre, hàng dậu, lối xóm quanh co, hun hút, trời xanh trên đầu khói phủ mặt nước, bóng trăng trong ao. Khác một chút là ở hai bài thơ trên kia, Nguyễn Khuyến là nhà thơ, là ông câu cá, còn ở đây ông khề khà ly rượu. Nhưng cũng chính từ cái khác ấy mà cảnh vật dường như biến dạng, đầy bất ngờ mà thú vị. Hai câu đề Ba gian nhà cỏ thấp le te Ngõ tối đêm sâu đóm lập lòe Nhà tranh mà gọi là nhà cỏ thì giá trị đã hạ một bậc nhưng chữ nghĩa khác nhau chưa mấy. Nhưng thấp le te đã rõ là thấp và chẳng còn lành lặn, mái tranh đã rách nát, xác xơ đổi dạng. Tiếp theo Ngõ tối và đêm sâu là cảnh bình thường nhưng lại có ánh lửa đom đóm lập lòe làm cho ngõ tối và đêm sâu lúc tối, lúc sáng thành ra cũng biến dạng. Hai câu thực cũng vậy Lưng giậu phất phơ màu khói nhạt, Làm áo lóng lánh bónq trăng loe. Sương thu lớt phớt như khói mỏng phủ bờ giậu khiến cho cây xanh cũng chẳng còn màu đêm. Câu thơ đặc biệt miêu tả tài tình Mặt ao cũng không còn phẳng lặng mà lăn tăn gợn sóng và ánh trăng chiếu vào nên lóng lánh; bóng trăng chiếu xuống nước gợn sóng cũng chẳng còn nguyên hình mà chao lại loe ra, dồn lại, biến dạng liên tiếp. Da trời ai nhuộm mà xanh ngắt? Mắt lão không vầy cũng đỏ hoe. Cảnh trời và cảnh mình. Trời cũng như mình đều do ai đó làm cho biến đổi Trời thì ai nhuộm mà xanh ngắt, mắt mình không vầy mà cũng đỏ hoe? Người nghiên cứu bảo cụ Tam nguyên đau mắt, có lần mắt đỏ như máu, hay là do rượu say? Say rượu cũng thường đỏ mắt. Chữ “ai” lấp lửng một mối hoài nghi, nghe lửng lơ nhưng chắc không phải vô ý. Bỗng dưng lại lấy một thế lực nào đó bên ngoài tác động vào trời, nhuộm cả da trời, rồi bỗng dưng mắt mình “đỏ hoe nước mắt”. Đây cũng là nét tâm tư của nhà thơ? Nó cùng một mạch cảm thương như hoa năm nay mà nhìn ra hoa năm ngoái, và tiếng ngỗng bay qua trời mình mà nghĩ mà ngỡ là ngỗng nước nào. Tâm tư nhà thơ không ngoài nét buồn đau trước cánh nước mất, lũ giặc lũ gian giày xéo mà mình thì bất lực, bứt rứt không nguôi. Cuối cùng là tửu tượng cũng chẳng còn bình thường Rượu tiếng rằng hay chả mấy nên chỉ dăm ba chén đã say nhè. Nhìn chung tại sao lại có sự biến hình đổi dạng này? Do rượu chăng? Sao nhìn vật một hóa thành hai, ba, hoặc nhòa nhạt tất cả. Dáng hình biến đổi, màu sắc, đường nét nổi lên nhòe ra chập lại, lảo đảo như say. Âm thanh cũng theo điệu ấy, có vẻ say. Rõ nhất và cũng bất ngờ nhất, thú vị nhất là ở tất cả các từ le te, lập lòe, đỏ hoe, say nhè. Cả câu Làn ao lóng lánh bóng trăng loe có đến bốn tiếng có phụ âm l, càng tăng gấp bội cái cảm giác ngửa nghiêng, chao đảo không chỉ ở bóng trăng dưới nước mà ở cả mặt ao, làn ao. Từ đó mà cảm giác ngả nghiêng chao đảo ấy lan tỏa ra toàn bài để rồi kết thúc bằng hai chữ “say nhè” ở chót câu cuối nhưng rồi âm thanh và ý nghĩa lại dội ngược lên toàn bài. Thế là nhà thơ một mình đối diện với bầu rượu trong đêm thu này. Sau dăm ba chén, tâm tư đã nhòa ra, thẩm thấu vào cảnh vật, khiến cho dáng thu, hồn thu đều cùng biến dạng, lảo đảo, say nhè. Cái hay, cái tài của bài thơ Thu Ẩm này là ở đó. Nhà thơ say vì nỗi buồn trước vận nước và bứt rứt khôn nguôi trong lòng. Mượn vài chén rượu cho khuây nhưng uống vào lại thấy nỗi niềm ấy hiện ra rõ rệt hơn, làm lảo đảo cả cảnh vật đêm thu. Có lúc không rượu mà tâm trạng chừng vui hơn, cụ Tam nguyên đã tự cười mình và cũng thấy người mình như say Khấp khểnh ba chân dở tỉnh say kia mà! Theo
Ngày đăng 22/07/2016, 2132 Mùa thu vốn là một đề tài quen thuộc trong thơ ca Việt Nam. Thu thường mang đến cho thi sĩ một nỗi buồn man mác, gợi nhớ hay nuối tiếc về một cái gì đó xa xôi, đầy bí ẩn. Dường như không ai vô tình mà không nói đến cảnh thu, tình thu khi đã là thi sĩ…Đến với Nguyễn Khuyến, chúng ta sẽ thấy được điều đó. Cảnh mùa thu trong thơ ông không phải là mùa thu ở bất cứ miền nào, thời nào, mà là mùa thu ở quê ông, vùng đồng chiêm Bắc Bộ lúc bấy giờ. Chỉ với bầu trời “xanh ngắt” Thu vịnh, với cái nước “trong veo” của ao cá Thu điếu, và cái “lưng giậu phất phơ màu khói nhạt, làn ao lóng lánh bóng trăng loe” Thu ẩm. Nguyễn Khuyến đã làm say đắm lòng bao thế hệ! Khi nhận xét về bải thơ Thu điếu của Nguyễn Khuyến, Xuân Diệu có viết “Bài thơ thu vịnh là có thần hơn hết, nhưng ta vẫn phải nhận bài Thu điếu là điển hình hơn cả cho mùa thu của làng cảnh Việt Nam”. Vậy ta thử tìm hiểu xem thế nào mà “Thu điếu là điển hình hơn cả cho mùa thu của làng cảnh Việt Nam”?Nếu như ở Thu vịnh, mùa thu được Nguyễn Khuyến đón nhận từ cái không gian thoáng đãng, mênh mông, bát ngát, với cặp mát hướng thượng, khám phá dần các tầng cao của mùa thu để thấy được “ Trời thu xanh ngắt mấy tầng cao”, thì ở Thu điếu, nhà thơ không tả mùa thu ở một khung cảnh thiên nhiên rộng rãi, không phải là trời thu, rừng thu hay hồ thu, mà lại chỉ gói gọn trong một ao thu ao chuôm là đặc điểm của vùng đồng chiêm trũng, vùng quê của Nguyễn KhuyếnAo thu lạnh lẽo nước trong veoMột chiếc thuyền câu bé tẻo teoCâu thơ đầu tồn tại hai vần “eo”, câu thơ thể hiện sự co lại, đọng lại không nhúc nhích, cho ta một cảm giác lạnh lẽo, yên tĩnh một cách lạ thường. Không có từ “lẽo” và từ “veo” cũng đủ cho ta thấy cảnh tĩnh, nhưng thêm hai từ này lại càng thấy cảnh tĩnh hơn nữa. Khung ao tuy hẹp nhưng tác giả lại không bị giới hạn mà mở rộng ra nhiều chiều, trong cái không khí se lạnh đó dường như làm cho làn nước ao ở độ giữa thu, cuối thu như trong trẻo hơn. Những tưởng trong “ao thu lạnh lẽo” ấy, mọi vật sẽ không xuất hiện, thế mà thật bất ngờ Khung ao không trống vắng mà có “một chiếc thuyền câu bé tẻo teo”. Có khung cảnh thiên nhiên và có dấu vết của cuộc sống con người, khiến cảnh thu thêm được phần nào ấm cúng. Chiếc thuyền “tẻo teo” trông thật xinh xắn. Câu thơ đọc lên, làm cho đối tượng miêu tả trở nên gần gũi và thân mật biết bao!Với hai câu mở đầu, nhà thơ sử dụng những từ ngữ gợi hình ảnh, tạo độ gợi cao “lẽo”, “veo”, “tẻo teo” mang đến cho người đọc một nỗi buồn man mác, cảnh vắng vẻ, ít người qua lại. Và rồi hình ảnhSóng biếc theo làn hơi gợn tíLá vàng trước gió khẽ đưa vèoCàng làm cho không khí trở nên tĩnh lặng hơn, nhà thơ đã dùng vcái động của “lá vàng trước gió” để miêu tả cái tĩnh của cảnh thu làng quê Việt Nam. Những cơn gió mùa thu đã xuất hiện và mang theo cái lạnh trở về, khiến ao thu không còn “lạnh lẽo”, không còn tĩnh lặng nữa vì mặt hồ đã “gợn tí”, “lá vàng khẽ đưa vèo”, cảnh vật dường như đã bắt đầu thay đổi hẳn đi! Cơn “sóng biếc” nhỏ “hơi gợn tí” và chiếc lá “trước gió khẽ đưa vèo” tưởng như mâu thuẫn với nhau, nhưng thật ra ở đây Nguyễn Khuyến đã quan sát kĩ theo chiếc lá bay trong gió, chiếc lá rất nhẹ và thon thon hình thuyền, chao đảo liệng đi trong không gian, rơi xuống VnDoc - Tải tài liệu, văn pháp luật, biểu mẫu miễn phí Phân tích thơ Thu ẩm Nguyễn Khuyến Bài tham khảo Thu ẩm có nghĩa mùa thu uống rượu Đây ba thơ Nôm nói mùa thu tiếng Nguyễn Khuyến Thu điếu Mùa thu câu cá, Thu vịnh Mùa thu làm thơ, Thu ẩm Mùa thu uống rượu Chùm thơ dáng thu, hồn thu đồng Bắc Bộ thời xưa Mỗi thơ mang dáng thu riêng nét tâm tình riêng Thấm đượm vào cảnh vật tâm trạng băn khoăn, u uất nhà thơ trước tình cảnh đất nước rơi vào tay giặc Dáng thu Thu vịnh thăm thẳm, xa vời, quen mà lạ Trời thu xanh ngát cao; khóm tre thu nhỏ lại hinh ảnh cần trúc, sương khói phủ thành tầng mặt nước, song thưa để mặc bóng tràng vào, hoa năm thành hoa năm ngoái, tiếng ngỗng thảng thốt, mơ hổ… Hồn thu lắng chìm vào bôn trong, ẩn chứa chiều sâu Dáng thu, hồn thu Thu điếu lại chất chứa thu nhỏ lặng im cảnh vật thuyền câu bé tẻo teo, nước biếc mặt ao gợn tí, vàng khẽ rơi không thành tiếng, tiếng cá đớp động nhẹ chân bèo Tất im lìm, tĩnh mịch VnDoc - Tải tài liệu, văn pháp luật, biểu mẫu miễn phí Tưởng chừng ông câu hoá đá tư tựa gối ôm cần Tâm tư cụ Tam Nguyên ngụ chờ đợi mỏi mòn không khí yên lặng gần tuyệt đối Trở lại với hai thơ thu dòng có ý so sánh đế nhìn rõ dáng thu, hồn thu tâm tư nhà thơ Thu ẩm này, đây, dáng thu, hồn thu tâm tư nhà thơ có khác Cảnh vật cảnh vật quen thuộc Từ nhà, từ vườn cụ Tam Nguyên nhìn cánh đồng, ao, rặng tre, hàng giậu, ngõ xóm quanh co, hun hút, trời xanh đầu, khói phủ mặt nước, bóng trăng ao Khác chút đây, Nguyễn Khuyến không nhà thơ, ông câu mà ông già khề khà chén rượu giải sầu Nhưng khác mà cảnh vật dường biến đổi, đầy bất ngờ thú vị Hai câu đề Ba gian nhà cỏ thấp le te, Ngõ tối đêm sâu, đóm lập loè Nhà tranh mà gọi nhà cỏ giá trị hạ xuống bậc chữ nghĩa khác chưa Nhưng thấp le te thi rõ lụp xụp chẳng lành lặn, mái tranh rách nát, xác xơ đổi dạng Tiếp theo, ngõ tối đêm sâu cảnh bình thường ánh lửa đom đóm lập loè lúc tối, lúc sáng làm cho ngõ tối đêm sâu biến dạng Hai câu thực Lưng giậu phất phơ màu khói nhạt, Làn ao lóng lánh bóng trăng loe Sương thu lớt phớt khói mỏng phủ lên bờ giậu, khiến cho rặng nhạt bớt màu đêm Đặc biệt tài tình hình ảnh mặt ao lăn tăn gợn sóng, lóng lánh bóng trăng Bóng trăng mặt nước lúc dồn lại, lúc loe ra, biến dạng liên tiếp Hai câu luận Da trời nhuộm mà xanh ngắt, Mắt lão không vầy đỏ hoe Nguyễn Khuyến tả cảnh trời cảnh Dường bầu trời người bị lực vô hình nấo làm cho biến đổi Da trời nhuộm mà xanh ngắt, mắt không vầy đỏ hoe? Hay say rượu ? Say rượu thường đỏ mắt VnDoc - Tải tài liệu, văn pháp luật, biểu mẫu miễn phí Chữ câu thơ lấp lửng mối hoài nghi lấp lửng không vô ý Đây biểu tâm trạng nhà thơ chăng? Hay mạch với cảm nhận hoa năm mà nhìn hoa năm ngoái nghe tiếng ngỗng văng vẳng không mà giật tự hỏi ngỗng nước ? Tâm tư nhà thơ trĩu nặng trước cảnh đất nước bị lũ giặc ngoại xâm giày xéo mà đau đớn, day dứt khồng nguôi Cuối tửu lượng nhà thơ chẳng bình thường RƯỢU tiếng hay, hay chẳng mấy, Chỉ dăm ba chén say nhè Tại cảnh vật lại có biến hình đổi dạng thế? Do người nhìn say rượu say nhìn hoá thành hai, thành ba nhạt nhoà tất Sự vật biến đổi hình dáng, màu sắc, đường nét rối lên, nhoè ra, chập lại, lảo đảo say Âm thơ theo điệu Rõ bất ngờ nhất, thú vị từ le te, lập loè, loe, đỏ hoe, say nhè Tất từ quy vào âm chủ đạo e từ nhè, say nhè mà nhoè thành nguyên âm đôi oè lập /oè, oe loe, hoe, vần lảo đảo say theo, say mạnh Cảnh vật say ánh sáng đom đóm hoá lập loè, bóng trăng chập chờn loe theo sóng, mắt người tự nhiên đỏ hoe Trong câu Làn ao lóng lánh bóng trăng loe có đến bốn tiếng có phụ âm / nối tiếp nhau, làm tăng gấp bội cảm giác ngửa nghiêng, chao đảo không chĩ bóng trăng mà mặt ao, nước từ lan toả toàn để kết thúc hai chữ say nhè Nhà thơ đối diện với bầu rượu đêm thu vắng Sau dăm ba chén, men khơi dậy tâm tư Nỗi xúc động sâu xa tâm hồn nhà thơ thấm vào cảnh vật, đồng điệu với dáng thu, hồn thu Cái hay, tài thơ Thu ẩm Nhà thơ buồn bã, day dứt không nguôi trước vận nước rối ren, đành mượn vài chén rượu giải khuây uống lại thấy nỗi niềm rõ rệt hơn, làm lảo đảo đến cảnh vật đêm thu Đã có lúc không uống rượu tâm trạng dường vui hơn, cụ Tam Nguyên tự cười thấy chuếnh choáng Khấp khểnh ba chân dở tĩnh say mà Bài tham khảo Thu ẩm Nguyễn Khuyến VnDoc - Tải tài liệu, văn pháp luật, biểu mẫu miễn phí Năm gian nhà cỏ thấp le te, Ngõ tối đêm sâu đóm lập loè Lưng giậu phất phơ màu khói nhạt, Làn ao lóng lánh bóng trăng loe Da trời nhuộm mà xanh ngắt, Mắt lão không vầy đỏ hoe Rượu tiếng hay hay chả mấy, Độ năm ba chén say nhè Rượu, hoa, trăng thú tiêu khiển cao tao nhân mác khách xưa Bài thơ "Nâng chén, hỏi trăng" Lý Bạch nhiều người yêu thích "Người chẳng thấy trăng thời trước Người trước, trăng soi Người trước, người nước chảy Cùng xem trăng sáng Chỉ ước vui ca thưởng chén quỳnh Be vàng, trăng sáng vào rọi mãi" Tương Như dịch Tam Nguyên Yên Đổ có nhiều câu thơ đậm đà ý vị nói rượu "Khi vui chén rượu say Ngửa mặt lờ mờ núi xa" Cáo quan nhà "Em chẳng no mà chẳng đói, Thung thăng lá, rượu lưng bầu" Lụt, hỏi thăm bạn "Rượu ngon bạn ...Phân tích bài thơ Thu Điếu của Nguyễn Khuyến Thu Điếu nằm trong chùm thơ của Nguyễn Khuyến. Đây là một trong những bài thơ hay nhất trong hệ thống thơ ca tả về mùa thu và cũng là một trong ba bài thơ tiêu biểu của Nguyễn Khuyến tả về làng cảnh Việt Nam. Cũng như Thu Vịnh và Thu Ẩm, bài Thu Điếu, đem đến cho người đọc sự cảm nhận vẻ đẹp của cảnh thu và tâm trạng của nhà thơ. Nếu như ở Thu Vịnh, cảnh thu đựơc đón nhận từ cao, xa đến gần, rồi gần đến cao, xa thì ở Thu Điếu cảnh thu được đón nhận từ gần đến cao – xa rồi từ cao xa trở lại gần. Điểm nhìn cảnh thu được nhìn từ chiếc thuyền câu đến mặt ao rồi nhìn lên bầu trời, nhìn tới ngõ trúc rồi nhìn ra mặt ao. Từ khung ao hẹp tác giả miêu tả mùa thu đựơc cả không gian và thời gian cảnh sắc mùa thu mở ra nhiều hướng thật sinh động. Bài thơ kể việc câu cá mùa thu nhưng thực ra đó lại là nói chuyện mùa thu, miêu tả cảnh mùa thu của vùng quê đồng bằng Bắc Bộ, quê hương của tác giả Nguyễn Khuyến. Trong bài thơ có ao thu, thuyền câu, có lá vàng, có tầng mây, có sóng, có cá và người câu cá. Không gian mùa thu, vắng lặng và chính sự vắng lặng này mới tả được khoảnh khắc lặng lẽ của mùa thu và tả được tâm trạng, tĩnh lặng của tác giả. Ở hai câu đầu tác giả viết Ao thu lạnh lẽo nước trong veo Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo Hai câu thơ này không chỉ miêu tả được cả không gian mùa thu ao thu mà còn miêu tả được cả thời gian của mùa thu. Mùa thu được biểu hiện ở làn nước trong veo, đã trong lại còn trong veo và thêm lạnh lẽo. Ao thu lạnh lẽo càng làm tăng thêm độ buồn của mùa thu. Đó là mùa thu của lòng của lòng người buồn, của thi nhân buồn mà thôi. Mùa thu thường là mùa của tâm trạng buồn, qua hai câu thơ này càng thấy Nguyễn Khuyến đã rất tài tình khi miêu tả khung cảnh mùa thu. Chiếc thuyền câu vốn đã bé lại càng bé tẻo teo. Hai vầng eo càng làm cho không gian càng thêm thu nhỏ lại. Không nói ao rộng nhưng qua việc miêu tả ao mùa thu lại còn lạnh lẽo làm cho không gian ở đây có phần mông lung và như tan ra cùng sự lạnh lẽo của ao mùa thu. Mùa thu nước ao mới trong xanh như vậy làm cho không gian thêm nhỏ, chiếc thuyền đã bé lại bé thêm, như thu mình thêm nhỏ lại. Cảnh ao càng thêm vắng lặng Sóng biếc theo làn hơi gợn tí Lá vàng trước gió khẽ đưa vèo. Cảnh trên bờ ao lúc này chỉ có gió mà lại rất khẽ, làm cho sóng chỉ hơi gợi tí ta cũng thấy được gió ở đây rất nhẹ chỉ tạo đủ độ để sóng gợn mà thôi. Khung cảnh mùa thu đượm buồn như im lìm, lặng lẽ, chỉ có chiếc lá khẽ đưa mà thôi, không tạo ra âm thanh từ khẽ miêu tả được cả âm thanh, đó là âm thanh, đó là âm thanh, tĩnh chứ không động, tả được cái trạng thái tĩnh lặng của mùa thu. Ngày cả từ vèo cũng vậy đó không chỉ là bay qua của chiếc lá khi có làn gió mà từ vèo đó còn là thể hiện tâm trạng, thời thế của nhà thơ, một tâm sự đầy đau buồn trước tình hình của đất nước đầy đau thương. Đến câu thơ thứ năm và thứ sáu, từ việc miêu tả cảnh ao thu, tác giả miêu tả rộng ra đó là cảnh trời mùa thu. Cảnh sắc trời tác giả miêu tả rộng ra đó là cảnh mặt trời mùa thu. Cảnh sắc trời mùa thu được nhìn rộng ra từ mặt ao, từ khung cảnh rộng đó tác giả nhìn xa Tầng mây lơ lửng trời xanh ngắt Ngõ trúc quanh co khách vắng teo Từ không gian của cảnh ao thu đó không chỉ là Ao thu lạnh lẽo, Chiếc thuyền câu bé tẻo teo tác giả miêu tả cảnh thu rộng và xa hơn đó là trời thu. Khung cảnh trời thu với tầng mây lơ lửng nhuộm một màu xanh ngắt, đám mây lơ lửng như không buồn trôi. Ở đây từ lơ lửng đó còn là tâm trạng suy nghĩ của tác giả về một vấn đề già đó chưa quyết định rõ ràng. Từ trời thu tác giả nhìn xuống, nhìn xa ngõ trúc. Không gian lại trở nên vắng lặng buồn thảm bên cạnh đó việc khách vắng teo lại càng làm tăng thêm không khí của mùa Mùa thu vốn là một đề tài quen thuộc trong thơ ca Việt Nam. Thuthường mang đến cho thi sĩ một nỗi buồn man mác, gợi nhớ haynuối tiếc về một cái gì đó xa xôi, đầy bí ẩn. Dường như không aivô tình mà không nói đến cảnh thu, tình thu khi đã là thi sĩ…Đến với Nguyễn Khuyến, chúng ta sẽ thấy được điều đó. Cảnh mùa thu trong thơ ông không phải là mùathu ở bất cứ miền nào, thời nào, mà là mùa thu ở quê ông,vùng đồng chiêm Bắc Bộ lúc bấy giờ. Chỉ với bầu trời “xanh ngắt” Thu vịnh, với cái nước “trong veo”của ao cá Thu điếu, và cái “lưng giậu phất phơ màu khói nhạt, làn ao lóng lánh bóng trăng loe” Thuẩm. Nguyễn Khuyến đã làm say đắm lòng bao thế hệ! Khi nhận xét về bải thơ Thu điếu của NguyễnKhuyến, Xuân Diệu có viết “Bài thơ thu vịnh là có thần hơn hết, nhưng ta vẫn phải nhận bài Thu điếu làđiển hình hơn cả cho mùa thu của làng cảnh Việt Nam”. Vậy ta thử tìm hiểu xem thế nào mà “Thu điếu làđiển hình hơn cả cho mùa thu của làng cảnh Việt Nam”?Nếu như ở Thu vịnh, mùa thu được Nguyễn Khuyến đón nhận từ cái không gian thoáng đãng, mênhmông, bát ngát, với cặp mát hướng thượng, khám phá dần các tầng cao của mùa thu để thấy được “ Trờithu xanh ngắt mấy tầng cao”, thì ở Thu điếu, nhà thơ không tả mùa thu ở một khung cảnh thiên nhiênrộng rãi, không phải là trời thu, rừng thu hay hồ thu, mà lại chỉ gói gọn trong một ao thu ao chuôm là đặcđiểm của vùng đồng chiêm trũng, vùng quê của Nguyễn KhuyếnAo thu lạnh lẽo nước trong veoMột chiếc thuyền câu bé tẻo teoCâu thơ đầu tồn tại hai vần “eo”, câu thơ thể hiện sự co lại, đọng lại không nhúc nhích, cho ta một cảmgiác lạnh lẽo, yên tĩnh một cách lạ thường. Không có từ “lẽo” và từ “veo” cũng đủ cho ta thấy cảnh tĩnh,nhưng thêm hai từ này lại càng thấy cảnh tĩnh hơn nữa. Khung ao tuy hẹp nhưng tác giả lại không bị giớihạn mà mở rộng ra nhiều chiều, trong cái không khí se lạnh đó dường như làm cho làn nước ao ở độ giữathu, cuối thu như trong trẻo hơn. Những tưởng trong “ao thu lạnh lẽo” ấy, mọi vật sẽ không xuất hiện, thếmà thật bất ngờ Khung ao không trống vắng mà có “một chiếc thuyền câu bé tẻo teo”. Có khung cảnhthiên nhiên và có dấu vết của cuộc sống con người, khiến cảnh thu thêm được phần nào ấm cúng. Chiếcthuyền “tẻo teo” trông thật xinh xắn. Câu thơ đọc lên, làm cho đối tượng miêu tả trở nên gần gũi và thânmật biết bao!Với hai câu mở đầu, nhà thơ sử dụng những từ ngữ gợi hình ảnh, tạo độ gợi cao “lẽo”,“veo”, “tẻo teo” mang đến cho người đọc một nỗi buồn man mác, cảnh vắng vẻ, ít người qua lại. Và rồihình ảnhSóng biếc theo làn hơi gợn tíLá vàng trước gió khẽ đưa vèoCàng làm cho không khí trở nên tĩnh lặng hơn, nhà thơ đã dùng vcái động của “lá vàng trước gió” đểmiêu tả cái tĩnh của cảnh thu làng quê Việt Nam. Những cơn gió mùa thu đã xuất hiện và mang theo cáilạnh trở về, khiến ao thu không còn “lạnh lẽo”, không còn tĩnh lặng nữa vì mặt hồ đã “gợn tí”, “lá vàngkhẽ đưa vèo”, cảnh vật dường như đã bắt đầu thay đổi hẳn đi! Cơn “sóng biếc” nhỏ “hơi gợn tí” và chiếclá “trước gió khẽ đưa vèo” tưởng như mâu thuẫn với nhau, nhưng thật ra ở đây Nguyễn Khuyến đã quansát kĩ theo chiếc lá bay trong gió, chiếc lá rất nhẹ và thon thon hình thuyền, chao đảo liệng đi trong khônggian, rơi xuống mặt hồ yên tĩnh. Quả là phải có một tâm hồn yêu thiên nhiên, yêu cuộc sống thật sâu sắcthì Nguyễn Khuyến mới có thể cảm nhận được những âm thanh tinh tế, tưởng chừng như chẳng ai để ýđến như thế! Như trên đã nói mở đầu bài thơ, tác giả sử dụng vần “eo” nhưng tác giả không bị giới hạn mà đã mở rộng không gian theo chiều cao, tạo nên sự khoáng đạt, rộng rãi cho cảnh vậtTầng mây lơ lửng trời xanh ngắtNgõ trúc quanh co khách vắng teoBầu trời thu xanh ngắt xưa nay vẫn là biểu tượng đẹp của mùa thu. Những áng mây không trôi nổi baykhắp bầu trời mà “lơ lửng”. Trước đây Nguyễn Du đã từng viết về mùa thu vớiLong lanh đáy nước in trờiThành xây khói biếc non phơi bóng vàngNay Nguyễn Khuyến cũng thế. Mở ra không gian rộng, cảm hứng Nguyễn Khuyến lại trở về với khungcảnh Bài thơ diễn đạt tâm trạng ưu thời mẫn thế của Nguyễn Khuyếntrước tình cảnh đất nước bị kẻ thù xâm lược và thế hệ nhà thơnhư các ông không tìm được cách gì đó hiệu quá để cứu nước. Bàithơ cũng nói lên tình yêu quê hương đất nước của tác xuất phát của cái nhìn là từ cảnh ao thu và chiếc thuyền câu. Tất nhiên nhà thơ đang ngồi trên chiếcthuyền câu trên ao nhưng hình ảnh con người lúc này ẩn kín, nhường cho khung cảnh thiên nhiên. Từcảnh gần, nhà thơ khái quát đến không gian rộng hơn trên cao là bầu trời với những ậng mây và ở dướiđất là ngõ trúc vắng sắc riêng của mùa thu được gợi lên qua các từ ngữ, hình anh như ao thu trong veo, sóng gợn nhẹhơi gợn tí, lá vàng rơi trong gió lá vàng trước gió khẽ đưa vèo và bầu trời xanh ngắt rất đặc trưng. Đâylà cảnh thu điển hình của đồng bằng Bắc Bộ, cụ thể hơn, của vùng đồng chiêm trũng Hà Nam. Tất cả đềugợi cảm giác trong sáng, thanh sạch, nhẹ nhàng, lặng lẽ. Không gian đồng quê Bắc Bộ với ngõ trúc ngõcố lũy tre, ao nhỏi chiếc thuyền câu cũng góp phần đem lại cảm giác thu Việt gian trong bài Thu điếu là cảnh thu được diễn tả bằng nhiều phương diện màu sắc màu xanhbiếc của nước, màu vàng của lá cây và màu xanh da trời âm thanh ngõ khuất nẻo không một tiếng người- khách vống leo, tiếng cá quẫy nước nhè nhẹ dưới cánh bèo, hình khối, đường nét sóng gợn nhọ, chiếclá bay trong gió, áng mày hầu như đứng im lặng trên bầu trời xanh biếc, ngõ quanh co sâu hút. Khônggian này gợi ấn tượng về sự vắng lặng, cách biệt của nơi nhà thơ đang sống, một không gian ẩn dật, ảnh “lá vàng tníởc gió sẽ đưa vèo" tức là gió làm lá rơi nhẹ, không gây một tiếng động nào. Nhà thơcố gắng tạo cho mình một tâm thế của ngươi ẩn sĩ trong hoàn cảnh đất nước bị giặc Pháp xâm lược. Việcông rút lui khỏi quan trường là một hành động dũng cảm, cao đẹp, như chính ông nói trong một bài thơ,đó là hành động dũng thoái quyết tâm rút lui. Nhưng không thể làm người ẩn sĩ được. Người câu cátưởng như đang tận hưởng sự thanh thản trong không gian ẩn dật lánh đời thì bỗng không gian ấy bị phávỡ. Tiếng cá quẫy động dưới cánh bèo đã phá tan sự tĩnh lặng như đánh thức nhà thơ khỏi tâm trạng ẩndật lánh đời đó. Trách nhiệm với đất nước, thời thế đã thay đổi, không thể ẩn dật như các nhà nhà thơ xưađược chung, bài thơ diễn đạt tâm trạng ưu thời mẫn thế của Nguyễn Khuyến trước tình cảnh đất nước bịkẻ thù xâm lược và thế hệ nhà thơ như các ông không tìm được cách gì đó hiệu quá để cứu nước. Bài thơcũng nói lên tình yêu quê hương đất nước của tác thêm Video bài giảng môn Văn học “Thu điếu\\\" được viết bằng thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật,ngôn ngữ tinh tế, hình tượng và biểu cảm. Cảnh thu, trời thu xinhđẹp của làng quê Việt Nam như hiện lên trong dáng vẻ và màu sắctuyệt vời dưới ngọn bút thần tình của Nguyễn nền thơ ca dân tộc có nhiều bài thơ tuyệt hay nói về mùa thu. Riêng Nguyễn Khuyến đã có chùmthơ ba bài Thu vịnh, Thu ẩm và Thu điếu. Bài thơ nào cũng hay, cũng đẹp cho thấy một tình quê dào bài "Thu điếu”, nhà thơ Xuân Diệu đã khẳng định là "điển hình hơn cả cho mùa thu của làng cảnhViệt Nam”. “Thu điếu” là bài thơ tả cảnh ngụ tình đặc sắc Cảnh đẹp mùa thu quê hương, tình yêu thiênnhiên, yêu mùa thu đẹp gắn liền với tình yêu quê hương tha thiết.“Thu điếu" được viết bằng thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật, ngôn ngữ tinh tế, hình tượng và biểucảm. Cảnh thu, trời thu xinh đẹp của làng quê Việt Nam như hiện lên trong dáng vẻ và màu sắc tuyệt vờidưới ngọn bút thần tình của Nguyễn câu đầu nói về ao thu và chiếc thuyền câu. Nước ao “trong veo” toả hơi thu “lạnh lẽo”. Sương khóimùa thu như bao trùm cảnh vật. Nước ao thu đã trong lại trong thêm, khí thu lành lạnh lại trở nên “lạnhlẽo”. Trện mặt nước hiện lên thấp thoáng một chiếc thuyền câu rất bé nhỏ - “bé tẻo teo". Cái ao và chiếcthuyền câu là hình ảnh trung tâm của bài thơ, cũng là hình ảnh bình dị, thân thuộc, đáng yêu của quê Xuân Diệu cho biết vùng đồng chiêm Bình Lục, Hà Nam có cơ man nào là ao, nhiều ao cho nên aonhỏ, ao nhỏ thì thuyền câu cũng theo đó mà “bé tẻo teo”“Ao thu lạnh lẽo nước trong veo,Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo”.Các từ ngữ “lạnh lẽo”, “trong veo”, “bé tẻo teo" gợi tả đường nét, dáng hình, màu sắc của cảnh vật, sắcnước mùa thu; âm vang lời thơ như tiếng thu, hồn thu vọng câu thơ tiếp theo trong phần thực là những nét vẽ tài ba làm rõ thêm cái hồn của cảnh thú“Sóng biếc theo làn hơi gợn tí,Lá vàng trước gió khẽ đưa vèoMàu “biếc” của sóng hoà hợp với sắc “vàng” của lá vẽ nên bức tranh quê đơn sơ mà lộng lẫy. Nghệ thuậtđối trong phần thực rất điêu luyện, “lá vàng" với “sóng biếc”, tốc độ “vèo” của lá bay tương ứng với mứcđộ của gợn sóng. Nhà thơ Tản Đà đã hết lời ca ngợi chữ “vèo” trong thơ của Nguyễn Khuyến. Ông đã nóimột đời thơ của mình may ra mới có được một câu thơ vừa ý trong bài “Cảm thu, tiễn thu" "Vèo trông lárụng đầy sân”.Hai câu luận mở rộng không gian miêu tả. Bức tranh thu có thêm chiều cao của bầu trời "xanh ngắt" vớinhững tầng mây “lơ lửng” trôi theo chiều gió nhẹ. Trong chùm thơ thu, Nguyễn Khuyến nhận diện sắctrời thu là “xanh ngắt"- “Trời thu xanh ngắt mấy tầng cao". Thu vịnh- “Da trời ai nhuộm mà xanh ngắt ”Thu ẩm- Tầng mây lơ lửng trời xanh ngắt”.Thu điếu“Xanh ngắt” là xanh mà có chiều sâu. Trời thu không mây mây xám, mà xanh ngắt một màu thăm ngắt đã gợi ra cái sâu, cái lắng của không gian, cái nhìn vời vợi của nhà thơ, của ông lão đang câucá. Thế rồi, ông lão đong đưa mắt nhìn về bốn phía làng quê. Hình như người dân quê đã ra đồng thôn vắng lặng, vắng teo. Mọi con đường quanh co, hun hút, không một bóng người qua lại“Ngõ trúc quanh co khách vắng teo”.Cảnh vật êm đềm, thoáng một nỗi buồn cô tịch, hiu hắt. Người câu cá như đang chìm trong một giấcmộng mùa thu. Tất cả cảnh vật từ mặt nước “ao thu lạnh lẽo” đến “chiếc thuyền câu bé tẻo teo”, từ “sóngbiếc" đến "lá vàng", từ “tầng mây lơ lửng” đến “ngõ trúc quanh co" hiện lên với đường nét, màu sắc, âmthanh có khi thoáng chút bâng khuâng, man mác, nhưng rất gần gũi, thân thiết với mọi con người ViệtNam. Phong cảnh thiên nhiên của mùa thu quê hương sao đáng yêu thế!Cái ý vị của bài thơ “Thu điếu” là hai câu kết“Tựa gối ôm cần lâu chẳng được,Cá đâu đớp động dưới chân bèo”.“Tựa gối ôm cần ” là tư thế của người câu cá cũng là một tâm thế nhàn của một nhà thơ đã thoát vòngdanh lợi. Cái âm thanh “cá đâu đớp động” nhất là từ “đâu” gợi liên sự mơ hồ, xa vắng và chợt tỉnh. Ngườicâu cá ở đây chính là nhà thơ, một ông quan to triều - Xem thêm -Xem thêm Phân tích bài thơ Thu ẩm của Nguyễn Khuyến, Phân tích bài thơ Thu ẩm của Nguyễn Khuyến,
Phân tích bài thơ Thu Ẩm - out of 5 based on 1 vote Details Published Tuesday, 26 May 2020 0800 Written by Admin4 Hits 4536 Trong bài Thu ẩm này, ở đây dáng thu, hồn thu và cả tâm tư nhà thơ được đưa vào trong bài. Thu ẩm là một trong ba bài thơ Nôm nổi tiếng Thu điếu, Thu ẩm và Thu vịnh. Chùm thơ này đã tôn vinh Nguyễn Khuyến lên vị trí hàng đầu trong các nhà thơ viết về mùa thu của quê hương, làng cảnh Việt Nam. Nguyễn Khuyến là một trong những nhà thơ nổi tiếng của nền văn học dân tộc, có nhiều bài thơ viết về mùa thu bằng chữ Hán và chữ Nôm. Thu ẩm là một trong ba bài thơ Nôm nổi tiếng Thu điếu, Thu ẩm và Thu vịnh. Chùm thơ này đã tôn vinh Nguyễn Khuyến lên vị trí hàng đầu trong các nhà thơ viết về mùa thu của quê hương, làng cảnh Việt Nam. Nhan đề bài thơ “Thu ẩm” có nghĩa là mùa thu uống rượu. Đây là một trong ba bài thơ Nôm nói về mùa thu nổi tiếng của Nguyễn Khuyến Thu điếu Mùa thu câu cá, Thu vịnh Mùa thu làm thơ, Thu ẩm Mùa thu uống rượu. Chùm thơ này là dáng thu, hổn thu của đồng bằng Bắc Bộ thời xưa. Mỗi bài thơ mang những dáng thu riêng và những nét tâm tình riêng. Thấm đượm vào cảnh vật là tâm trạng băn khoăn, u uất của nhà thơ trước tình cảnh đất nước rơi vào tay giặc. Trong bài Thu ẩm này, ở đây dáng thu, hồn thu và cả tâm tư nhà thơ được đưa vào trong bài. Cảnh vật vẫn là những cảnh vật quen thuộc. Từ nhà, từ vườn của cụ Tam Nguyên nhìn ra cánh đồng, cái ao, rặng tre, hàng giậu, ngõ xóm quanh co, hun hút, trời xanh trên đầu, khói phủ mặt nước, bóng trăng trong ao. Khác một chút là ở đây, Nguyễn Khuyến không còn là nhà thơ, là ông câu mà là ông già khề khà chén rượu giải sầu. Nhưng cũng chính vì cái khác ấy mà cảnh vật dường như biến đổi, đầy bất ngờ và thú vị . Ba gian nhà cỏ thấp le te, Ngõ tối đêm sâu, đóm lập loè. “Nhà cỏ”, dùng để chỉ ngôi nhà đơn sơ, nhưng thấp le te thì đã cho thấy là lụp xụp và chẳng còn lành lặn. Mái tranh đã rách nát, xác xơ. Tiếp đến ngõ tối và đêm sâu là cảnh bình thường nhưng ánh lửa đom đóm lập lòe lúc tối, lúc sáng làm cho ngõ tối và đêm sâu cũng biến dạng. Lưng giậu phất phơ màu khói nhạt, Làn ao lóng lánh bóng trăng loe. Sương thu lớt phớt như làn khói mỏng phủ lên bờ giậu, khiến cho rặng cây cũng nhạt bớt màu đêm. Đặc biệt tài tình là hình ảnh mặt ao lăn tăn gợn sóng, lóng lánh bóng trăng. Bóng trăng trên mặt nước lúc dồn lại, lúc loe ra, biến dạng liên tiếp. Da trời ai nhuộm mà xanh ngắt, Mắt lão không vẩy cũng đỏ hoe. Da trời không biết ai nhuộm mà xanh ngắt, mắt mình không vầy sao cũng đỏ hoe? Hay là do say rượu. Hình ảnh trung tâm của bài thơ là “Mắt lão không vầy cũng đỏ hoe”. Câu thơ đã diễn tả trạng thái ngà ngà say đến “say nhè” “Rượu tiếng rằng hay hay chả mấy – Độ năm ba chén đã say nhè”. “Say nhè” là say êm, say nhẹ, say rồi ngủ quên đi lúc nào chẳng biết. Chẳng phải là say bét nhè, bê tha. Trong sáu câu thơ đầu thì đã có đến năm câu đều có màu sắc thể hiện một cái nhìn đếm thu lúc ngồi uống rượu một mình. Có màu đen thẫm mịt mùng của đêm sâu ngõ tối. Có ánh sáng “lập loè” của bầy đom đóm. Có sắc trắng nhờ của “màu khói nhạt” nhẹ bay “phất phơ” trên lưng giậu cúc tần trước sân của năm gian nhà cỏ bình dị. Có màu vàng của bóng trăng loe tan ra lóng lánh trên làn ao “sóng biếc theo làn hơi gợn tí” trong veo. Có da trời màu “xanh ngắt” rất đẹp. Và sắc “đỏ hoe” của đôi mắt ông lão, của thi nhân đang uống rượu âm thầm. Xem thêm Phân tích bài thơ Thu Vịnh Cuối cùng là tửu lượng của nhà thơ cũng chẳng còn bình thường Rượu tiếng rằng hay, hay chẳng mấy Chỉ dăm ba chén đã say nhè. Tại sao cảnh vật lại có sự biến hình đổi dạng như thế? Do người nhìn say rượu chăng bởi khi say thì nhìn một hoá thành hai, thành ba hoặc nhạt nhoà tất cả. Sự vật biến đổi hình dáng, màu sắc, đường nét rối lên, nhoè ra, chập lại, lảo đảo như say. Bài thơ, ngoài đầu đề “Thu ẩm” ra, chẳng có một chữ thu nào nữa, thế mà câu thơ nào cũng chứa đựng một tình thu, và hồn thu man mác, dào dạt. Đó là chất thi vị độc đáo của bài thơ này. Các từ láy le te, lập loè, phất phơ, lóng lánh… với các từ rượu, chén, say nhè, cho thấy nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ của Nguyễn Khuyến vô cùng tinh luyện, hình tượng và biểu cảm. Với bài “Thu ẩm”, nhà thơ thể hiện sự buồn bã, day dứt trước vận nước rối ren, đành mượn vài chén rượu giải khuây nhưng càng uống lại càng thấy nỗi niềm đó hiện ra rõ rệt hơn. Tất cả cũng đều vì tình yêu quê hương đất nước của tác giả.
Thu Ẩm [Nguyễn Khuyến] ❤️️ Nội Dung Bài Thơ, Phân Tích ✅ Tổng Hợp Những Mẫu Phân Tích, Bố Cục, Dàn Ý, Sơ Đồ Tư Duy. Nội Dung Bài Thơ Thu ẨmVề Tác Giả Nguyễn KhuyếnVề Tác Phẩm Thu Ẩm [Uống Rượu Mùa Thu]Hoàn Cảnh Sáng Tác Bài Thơ Thu ẨmÝ Nghĩa Nhan Đề Bài Thơ Thu ẨmGiá Trị Nội Dung Và Nghệ Thuật Của Thu ẨmGiá Trị Nội DungGiá Trị Nghệ ThuậtBố Cục Bài Thơ Thu ẨmDàn Ý Bài Thơ Thu ẨmSơ Đồ Tư Duy Thu Ẩm5 Mẫu Phân Tích Bài Thơ Thu Ẩm Hay NhấtPhân Tích Bài Thơ Thu Ẩm Hay Nhất – Mẫu 1Phân Tích Bài Thơ Thu Ẩm Tiêu Biểu – Mẫu 2Phân Tích Bài Thơ Thu Ẩm Đặc Sắc – Mẫu 3Phân Tích Bài Thơ Thu Ẩm Ấn Tượng – Mẫu 4Phân Tích Bài Thơ Thu Ẩm Nổi Bật – Mẫu 5 Đến với nhà thơ Nguyễn Khuyến, nhà thơ đã được mệnh danh là người đã vẽ nên những bức tranh làng quê vùng Bắc Bộ Việt Nam vào mùa thu đầy đủ và đẹp đẽ nhất, người đọc có lẽ sẽ nhắc tới ngay bài thơ “thu ẩm” trong chùm thơ thu rất nổi tiếng của ông. Nội Dung Bài Thơ Thu Ẩm như sau Thu ẨmTác giả Nguyễn Khuyến Năm gian nhà cỏ thấp le te,Ngõ tối đêm sâu đóm lập giậu phất phơ màu khói nhạt,Làn ao lóng lánh bóng trăng trời ai nhuộm mà xanh ngắt?Mắt lão không vầy cũng đỏ tiếng rằng hay, hay chẳng năm ba chén đã say nhè. Có thể bạn quan tâm 🌱 Câu Cá Mùa Thu 🌱 Nội Dung, Nghệ Thuật Về Tác Giả Nguyễn Khuyến Sau đây là vài nét Về Tác Giả Nguyễn Khuyến. Nguyễn Khuyến 1835-1909 hiệu là Quế Sơn, lúc nhỏ tên là Nguyễn Thắng, lớn lên và sống chủ yếu ở quê nội – làng Và, xã Yên Đổ, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam. Ông xuất thân trong một gia đình nhà nho nghèo. Năm 1864, ông đỗ đầu kì thi Hương, mấy kì sau thi tiếp lại trượt. Đến năm 1871, ông đỗ đầu cả thi Hội và thi Đình. Do đỗ đầu cả ba kì thi nên Nguyễn Khuyến được gọi là Tam Nguyên Yên Đổ. Tuy đỗ đạt cao nhưng ông chỉ làm quan hơn mười năm, còn phần lớn cuộc đời là dạy học và sống thanh bạch ở quê nhà. Nguyễn Khuyến là người tài năng, có cốt cách thanh cao, có tấm lòng yêu nước thương dân, từng bày tỏ thái độ kiên quyết không hợp tác với chính quyền thực dân Pháp Sáng tác của Nguyễn Khuyến gồm cả chữ Hán và chữ Nôm với số lượng lớn, hiện còn trên 800 bài gồm thơ, văn, câu đối nhưng chủ yếu là thơ. Thơ Nguyễn Khuyến nói lên tình yêu quê hương đất nước, gia đình, bè bạn; phản ánh cuộc sống của những con người khổ cực, thuần hậu, chất phác; châm biếm, đả kích thực dân xâm lược, tầng lớp thống trị, đồng thời bộc lộ tấm lòng ưu ái đối với dân, với nước. Những tác phẩm nổi tiếng Bạn đến chơi nhà, Cuốc kêu cảm hứng, Câu cá mùa thu, Thu ẩm, Thu Vịnh… Đừng vội bỏ lỡ phân tích tác phẩm🌼Thu Vịnh [Nguyễn Khuyến]🌼 Nội Dung Bài Thơ, Nghệ Thuật Về Tác Phẩm Thu Ẩm [Uống Rượu Mùa Thu] Về Về Tác Phẩm Thu Ẩm [Uống Rượu Mùa Thu], bài thơ này nằm trong chùm ba bài thơ thu của Nguyễn Khuyến gồm Thu điếu, Thu ẩm, Thu vịnh. Bằng tài năng và sự khéo léo của mình, nhà thơ đã viết nên một bài thơ mang đậm dấu ấn và âm hưởng riêng của một Nguyễn Khuyến đã tài tình và tinh tế viết nên một áng thơ giàu tính thẩm mĩ, tính đã nghĩa, từ cảnh mà tình, rồi tình lại nhuốm lên cảnh. Tất cả những phong cách ngôn ngữ nghệ thuật đó đã khiến cho những vần thơ “thu ẩm” của Nguyễn Khuyến mãi là một kiệt tác văn học tuyệt vời và xúc động. XEM THÊM 👉 BÀI THƠ BẠN ĐẾN CHƠI NHÀ CỦA NGUYỄN KHUYẾN Hoàn Cảnh Sáng Tác Bài Thơ Thu Ẩm Hoàn Cảnh Sáng Tác Bài Thơ Thu Ẩm như sau Nguyễn Khuyến sáng tác ba bài thơ thu vào cuối thế kỉ XIX. Khi ấy, nước mất nhà tan, Nguyễn Khuyến cáo quan về quê Bình Lục – Hà Nam. Ông mang nỗi đau lớn của một con người hiển danh khoa bảng vào bậc nhất Tam nguyên – ba lần đỗ đầu cả thi Hương, thi Hội và thi Đình nhưng trở thành kẻ bất lực, vô nghĩa trước thời cuộc. Ba bài thơ thu khắc hoạ thấm thía nỗi đau của Tam nguyên Yên Đổ giữa thời mạt. Mời bạn xem thêm🌱 Tự Tình [Hồ Xuân Hương]🌱 Mẫu Phân Tích, Giá Trị Nội Dung Và Nghệ Thuật Ý Nghĩa Nhan Đề Bài Thơ Thu Ẩm Tiếp tục cùng tìm hiểu Ý Nghĩa Nhan Đề Bài Thơ Thu Ẩm nhé. Nhan đề bài thơ là “thu ẩm” có nghĩa là mùa thu uống rượu là nhãn tự, là nơi nói lên nội dung chính của bài thơ, và ở đây, bài thơ là một bức tranh mùa thu với đủ sắc màu và âm thanh dưới cái nhìn, dưới con mắt của một thi nhân, của một con người đang đơn độc nâng chén với cuộc đời. Giá Trị Nội Dung Và Nghệ Thuật Của Thu Ẩm Ngay sau đây là những Giá Trị Nội Dung Và Nghệ Thuật Của Thu Ẩm. Giá Trị Nội Dung Đây là mùa thu được cảm nhận bằng tâm trạng của một người ngồi uống rượu. Lúc này, cảnh thu sẽ mang các ấn tượng nỗi niềm riêng – dường như cũng chập chờn, mờ toả. Thu ẩm không miêu tả riêng một cảnh thu ở một thời điểm nào mà là sự “tổng hợp nhiều cảnh thu ở nhiều thời điểm” Xuân Diệu. Bài thơ cũng không hề có một chữ “thu” khác với “trời thu” ở Thu vịnh và “ao thu” ở Thu điếu. Giá Trị Nghệ Thuật Không có ước lệ tượng trưng mà chỉ đơn thuần là miêu tả trần trụi. Nghệ thuật độc đáo, vẽ mây nẩy trăng Miêu tả cảnh ao đêm trăng để thể hiện nỗi sầu qua làn nước mắt, sự đẹp đẽ của bầu trời dẫn đến nỗi suy tư đau đáu, trong cảnh chứa tình Có sự cách tân trong ngôn ngữ, mùa thu hiện lên trong sáng và hài hòa. Đừng vội bỏ lỡ phân tích 🔻 Hồn Trương Ba, Da Hàng Thịt 🔻 Sơ Đồ Tư Duy, Các Mẫu Phân Tích Hay Bố Cục Bài Thơ Thu Ẩm Bố Cục Bài Thơ Thu Ẩm gồm có 2 phần chính Phần 1 6 câu thơ đầu Cảnh mùa thu ở vùng quê Bắc bộ. Phần 2 2 câu thơ cuối Hình ảnh, tâm trạng của nhân vật trữ tình. Dàn Ý Bài Thơ Thu Ẩm Đừng bỏ qua Dàn Ý Bài Thơ Thu Ẩm sau đây. I. Mở bài Thu ẩm là một trong ba bài thơ thu nổi tiếng của Nguyễn Khuyến. Bài thơ cho thấy dáng thu, hồn thu của làng quê đồng bằng Bắc Bộ; đồng thời thể hiện tâm trạng băn khoăn, u uất của nhà thơ trước tình cảnh đau thương của đất nước. II. Thân bài Hai câu đề Ba gian nhà cỏ thấp le te,Ngõ tối đêm sâu, đóm lập loè. Cảnh thu ban đêm nơi làng quê nghèo khó với những hình ảnh quen thuộc được quan sát và miêu tả qua đôi mắt đầy tâm trạng của thi nhân Ba gian nhà cỏ lợp tranh hoặc rạ, thấp le te là rất thấp, tưởng như bị bóng tối đè nặng nên biến dạng. Ánh sáng lập loè của đom đóm làm cho ngõ hẹp càng thêm tối và đêm thêm sâu khuya. Hai câu thực Lưng giậu phất phơ màu khói nhạt,Làn ao lóng lánh bóng trăng loe. – Quan sát và cảm nhận của thi sĩ rất tinh tế sương thu như màu khói nhạt phủ quanh lưng giậu. Giậu là bờ rào bằng cây, thường trồng cúc tần hay dâm bụt. Bóng trăng soi trên mặt ao lãn tăn gợn sóng, lúc tụ lại, lúc tản ra, tạo cảm giác là bóng trăng loe. – Các phụ âm đầu / đứng gần nhau Làn, lóng lánh, loe đặc tả cảnh đó và thể hiện tài năng sử dụng ngôn ngữ của Nguyễn Khuyến. + Hai câu luận Da trời ai nhuộm mà xanh ngắt,Mắt lão không vầy cũng đỏ hoe. Đối tượng miêu tả thứ nhất là bầu trời xanh ngắt như chất chứa cái gì đó bên trong, khiến nhà thơ băn khoăn tự hỏi ai nhuộm mà xanh ngắt. Đại từ phiếm chỉ ai lấp lửng một mối hoài nghi không lời giải đáp. Đối tượng miêu tả thứ hai là chính bản thân nhà thơ Mắt lão không vầy cũng đỏ hoe. Đôi mắt chứa chất đầy tâm trạng. + Hai câu kết Rượu tiếng rằng hay hay chẳng mấy,Chỉ dăm ba chén đã say nhè. Từ hay có hai nghĩa hay uống rượu thường xuyên; hay tức là tửu lượng cao. ô câu thơ này, từ hay mang nghĩa thứ hai. Rượu tiếng rằng hay nhưng Chỉ dăm ba chén đã say nhè. Say do rượu thì ít mà say do tâm trạng thì nhiều. Nhà thơ muốn mượn rượu để quên đi nỗi buồn đang đầy ắp trong tâm hồn. * Nghệ thuật của bài thơ Bài thơ làm theo thể thất ngôn bát cú Đường luật, niêm luật rất chỉnh nhưng vẫn dung dị, tự nhiên. Nguyễn Khuyến có nhiều sáng tạo trong cách gieo vần và sử dụng từ ngữ, hình ảnh đậm đà tính chất dân tộc. III. Kết bài Tâm trạng u hoài của nhà thơ Nguyễn Khuyến thấm đượm vào cảnh vật, đồng điệu với dáng thu, hồn thu của làng cảnh quê hương. Nhà thơ buồn bã, day dứt khôn nguôi trước tình cảnh nô lệ của dân tộc, đất nước mà mình thì lực bất tòng tâm. Mượn rượu giấi sầu mà nỗi sầu càng thêm chồng chất. Giới thiệu đến bạn đọc🍀Ông Già Và Biển Cả🍀 Sơ Đồ Tư Duy, Các Mẫu Phân Tích Hay Sơ Đồ Tư Duy Thu Ẩm Cùng lưu lại các Sơ Đồ Tư Duy Thu Ẩm bên dưới. Sơ Đồ Tư Duy Thu Ẩm Dễ Hiểu Sơ Đồ Tư Duy Thu Ẩm Về Tác Giả Xem nội dung tác phẩm ✨Số Phận Con Người✨ Giá Trị Nội Dung Và Nghệ Thuật 5 Mẫu Phân Tích Bài Thơ Thu Ẩm Hay Nhất Chia sẻ cho bạn đọc 5 Mẫu Phân Tích Bài Thơ Thu Ẩm Hay Nhất. Phân Tích Bài Thơ Thu Ẩm Hay Nhất – Mẫu 1 Thu ẩm có nghĩa là mùa thu uống rượu. Đây là một trong ba bài thơ Nôm nói về mùa thu nổi tiếng của Nguyễn Khuyến Thu điếu Mùa thu câu cá, Thu vịnh Mùa thu làm thơ, Thu ẩm Mùa thu uống rượu. Chùm thơ này là dáng thu, hồn thu của đồng bằng Bắc Bộ thời xưa. Mỗi bài thơ mang những dáng thu riêng và những nét tâm tình riêng. Thấm đượm vào cảnh vật là tâm trạng băn khoăn, u uất của nhà thơ trước tình cảnh đất nước rơi vào tay giặc. Dáng thu trong Thu vịnh thăm thẳm, xa vời, quen mà lạ. Trời thu thì xanh ngắt những mấy từng cao; khóm tre thu nhỏ lại trong hình ảnh cần trúc; sương như khói phủ thành tầng trên mặt nước; song thưa để mặc bóng trăng vào; hoa năm nay bỗng thành hoa năm ngoái, tiếng ngỗng thảng thốt, mơ hồ… Hồn thu như lắng chìm vào bên trong, ẩn chứa ở chiều sâu. Dáng thu, hồn thu ở bài Thu điếu lại chất chứa trong sự thu nhỏ và lặng im của cảnh vật chiếc thuyền câu bé tẻo teo, nước biếc trên mặt ao chỉ gợn tí, lá vàng khẽ rơi vèo không thành tiếng, tiếng cá đớp động rất nhẹ dưới chân bèo. Tất cả đều im lìm, tĩnh mịch. Tưởng chừng như ông câu cũng hoá đá trong tư thế tựa gối ôm cần. Tâm tư cụ Tam Nguyên ngụ trong sự chờ đợi mỏi mòn giữa không khí yên lặng gần như tuyệt đối. Trở lại với hai bài thơ thu kia mấy dòng như vậy là có ý so sánh để nhìn được rõ hơn dáng thu, hồn thu và tâm tư nhà thơ trong bài Thu ẩm này. ổ đây, dáng thu, hồn thu và cả tâm tư nhà thơ có khác. Cảnh vật vẫn là những cảnh vật quen thuộc. Từ nhà, từ vườn của cụ Tam Nguyên nhìn ra cánh đồng, cái ao, rặng tre, hàng giậu, ngõ xóm quanh co, hun hút, trời xanh trên đầu, khói phủ mặt nước, bóng trăng trong ao. Khác một chút là ở đây, Nguyễn Khuyến không còn là nhà thơ, là ông câu mà là ông già khề khà chén rượu giải sầu. Nhưng cũng chính vì cái khác ấy mà cảnh vật dường như biến đổi, đầy bất ngờ và thú vị. Hai câu đề Ba gian nhà cỏ thấp le te,Ngõ tối đêm sâu, đóm lập loè. Nhà tranh mà gọi là nhà cỏ thì giá trị đã hạ xuống một bậc nhưng chữ nghĩa khác nhau chưa mấy. Nhưng thấp le te thì đã rõ ra là lụp xụp và chẳng còn lành lặn, mái tranh đã rách nát, xác xơ đổi dạng. Tiếp theo, ngõ tối và đêm sâu là cảnh bình thường nhưng ánh lửa đom đóm lập loè lúc tối, lúc sáng làm cho ngõ tối và đêm sâu cũng biến dạng. Hai câu thực Lưng giậu phất phơ màu khói nhạt,Làn ao lóng lánh bóng trăng loe. Sương thu lớt phớt như làn khói mỏng phủ lên bờ giậu, khiến cho rặng cây cũng nhạt bớt màu đêm. Đặc biệt tài tình là hình ảnh mặt ao lăn tăn gọn sóng, lóng lánh bóng trăng. Bóng trăng trên mặt nước lúc dồn lại, lúc loe ra, biến dạng liên tiếp. Hai câu luận Da trời ai nhuộm mà xanh ngắt,Mắt lão không vầy cũng đỏ hoe. Nguyễn Khuyến tả cảnh trời và cảnh mình. Dường như bầu trời và con người đều bị một thế lực vô hình nào đó làm cho biến đổi Da trời không biết ai nhuộm mà xanh ngắt’, mắt mình không vầy sao cũng đỏ hoe? Hay là do say rượu ? Say rượu cũng thường đỏ mắt. Chữ ai trong câu thơ lấp lửng một mối hoài nghi. Lấp lửng nhưng không vô ý. Đây cũng là biểu hiện tâm trạng của nhà thơ chăng? Hay là nó cũng cùng một mạch với cảm nhận hoa năm nay mà nhìn ra hoa năm ngoái và nghe tiếng ngỗng văng vẳng trên không mà giật mình tự hỏi là ngỗng nước nào ?Tâm tư nhà thơ trĩu nặng trước cảnh đất nước bị lũ giặc ngoại xâm giày xéo mà mình thì đau đớn, day dứt không nguôi. Cuối cùng là tửu lượng của nhà thơ cũng chẳng còn bình thường Rượu tiếng rằng hay, hay chẳng mấy, Chỉ dăm ba chén đã say nhè. Tại sao cảnh vật lại có sự biến hình đổi dạng như thế ? Do người nhìn say rượu chăng bởi khi say thì nhìn một hoá thành hai, thành ba hoặc nhạt nhoà tất cả. Sự vật biến đổi hình dáng, màu sắc, đường nét rối lên, nhoè ra, chập lại, lảo đảo như say. Âm thanh bài thơ cũng theo điệu ấy. Rõ nhất và cũng bất ngờ nhất, thú vị nhất là ở các từ le te, lập loè, loe, đỏ hoe, say nhè. Tất cả các từ quy vào âm chủ đạo là e; từ nhè, say nhè mà ra rồi nhoè ra thành nguyên âm đôi oè lập loè, oe loe, hoe, các vần này cũng lảo đảo say theo, say mạnh hơn. Cảnh vật cũng như say ánh sáng đom đóm hoá lập loè, bóng trăng chập chờn loe ra theo làn sóng, mắt người tự nhiên cũng đỏ hoe. Trong câu Làn ao lóng lánh bóng trăng loe có đến bốn tiếng có phụ âm / nối tiếp nhau, càng làm tăng gấp bội cái cảm giác ngửa nghiêng, chao đảo không chỉ ở bóng trăng mà ở cả mặt ao, làn nước và từ đó lan toả ra toàn bài để rồi kết thúc bằng hai chữ say nhè. Nhà thơ một mình đối diện với bầu rượu trong đêm thu vắng. Sau dăm ba chén, hơi men đã khơi dậy tâm tư. Nỗi xúc động sâu xa trong tâm hồn nhà thơ thấm vào cảnh vật, đồng điệu với dáng thu, hổn thu. Cái hay, cái tài của bài thơ Thu ẩm là ở đó. Nhà thơ buồn bã, day dứt không nguôi trước vận nước rối ren, đành mượn vài chén rượu giải khuây nhưng càng uống lại càng thấy nỗi niềm đó hiện ra rõ rệt hơn, làm lảo đảo đến cả cảnh vật đêm thu. Đã có lúc không uống rượu và tâm trạng dường như vui hơn, cụ Tam Nguyên tự cười mình và cũng thấy mình chuếnh choáng Khấp khểnh ba chân dô tỉnh say kia mà! Phân Tích Bài Thơ Thu Ẩm Tiêu Biểu – Mẫu 2 “Rượu”, “hoa”, “trăng”… là những thú tiêu khiển thanh cao của các tao nhân mác khách xưa nay. Bài thơ “Nâng chén, hỏi trăng” của Lý Bạch rất được nhiều người yêu thích Người nay chẳng thấy trăng thời trướcNgười trước, trăng nay soi đã từngNgười trước, người nay như nước chảyCùng xem trăng sáng đều thế đấyChỉ ước vui ca thưởng chén quỳnhBe vàng, trăng sáng vào rọi mãi”.Tương Như dịch Tam Nguyên Yên Đổ cũng có nhiều câu thơ rất đậm đà ý vị nói về rượu Khi vui chén rượu say không biếtNgửa mặt lờ mờ ngọn núi xaCáo quan về ở nhà Em cũng chẳng no mà chẳng đói,Thung thăng chiếc lá, rượu lưng bầuLụt, hỏi thăm bạn Rượu ngon không có bạn hiền,Không mua không phải không tiền không mua… Và còn có Thu ẩm – mùa thu uống rượu. Hình ảnh trung tâm của bài thơ là “Mắt lão không vầy cũng đỏ hoe”. Câu thơ đã diễn tả trạng thái ngà ngà say… đến “say nhè” “Rượu tiếng rằng hay hay chả mấy – Độ năm ba chén đã say nhè”. “Say nhè” là say êm, say nhẹ, say rồi ngủ quên đi lúc nào chẳng biết. Chẳng phải là say bét nhè, bê tha. Nguyễn Khuyến rất thanh cao, chỉ có “năm ba chén” nhỏ, đúng là cái thú “Khi vui chén rượu say không biết” hoặc “Khi hứng uống thêm năm chén rượu – Khi buồn ngâm láo một câu thơ” Đại lão Trong sáu câu thơ đầu thì đã có đến năm câu đều có màu sắc thể hiện một cái nhìn đếm thu lúc ngồi uống rượu một mình. Có màu đen thẫm mịt mùng của đêm sâu “ngõ tối”. Có ánh sáng “lập loè” của bầy đom đóm. Có sắc trắng nhờ của “màu khói nhạt” nhẹ bay “phất phơ” trên lưng giậu cúc tần trước sân của năm gian nhà cỏ bình dị. Có màu vàng của bóng trăng loe tan ra “lóng lánh” trên làn ao “sóng biếc theo làn hơi gợn tí” trong veo. Có da trời màu “xanh ngắt” rất đẹp. Và sắc “đỏ hoe” của đôi mắt ông lão, của thi nhân đang uống rượu âm thầm. Cảnh vật có đường nét cao, thấp, xa, gần, mỏng và nhẹ. Độ “thấp le te” của ngôi nhà cỏ năm gian. Độ sâu của đêm khuya và “ngõ tối” nơi làng quê vùng đồng chiêm trũng. Độ nhẹ vờn bay “phất phơ” của màu khói nhạt. Chiều đo “thấp” của “lưng giậu”, nét gợi của “làn ao”, vòng tròn của “bóng trăng loe” trên mặt “ao thu lạnh lẽo”, độ xa, cao, rộng của bầu trời, chân trời, độ hõm của đôi mắt “đỏ hoe” đã “say nhè”. Màu sắc ấy, đường nét ấy qua cái nhìn chập chờn, tỉnh say say tỉnh của nhà thơ. Màu sắc đường nét ấy là màu sắc của tâm tưởng, là đường nét của tâm trạng. Còn đâu nữa, chén rượu tri âm của đôi bạn “đăng khoa ngày trước?”. Cũng có lúc rượu ngon cùng nhắpChén quỳnh tương ăm ắp bầu xuân? Nay nhà thơ chỉ còn uống rượu trong đêm sâu, âm thầm, lặng lẽ và cô đơn. Cao Bá Quát nửa đầu thế kỷ XIX chỉ uống rượu “tiêu sầu”. Còn Nguyễn Khuyến “đêm thu nay’’ uống rượu cho vơi đi nỗi buồn thế sự “Rằng quan nhà Nguyễn nhà Nguyễn cáo về đã lâu” uống rượu để thao thức, thao thức nên uống rượu để vơi đi nỗi đau cuộc đời “Có phải tiếc xuân mà đứng gọi – Hay là nhớ nước vẫn nằm mơ” Cuốc kêu cảm hứng. Vợ chết, con mất, bạn chí thân qua đời, tuổi già, ốm đau, Nguyễn Khuyến mượn “năm ba chén rượu” để vợi đi ít nhiều nỗi buồn cô đơn Đời loạn đi về như hạc độc,Tuổi già hình bóng tựa mây côiGửi bạn Hình như chén rượu của nhà thơ đã tràn đầy nước mắt? Hai câu kết ý tại ngôn ngoại. Thấm một nỗi buồn mênh mông. Người đọc vô cùng xúc động khi thấy nhà thơ “say nhè” nằm ngủ Rượu tiếng rằng hay hay chả mấy,Độ năm ba chén đã say nhè Cả bài thơ, ngoài đầu đề Thu ẩm ra, chẳng có một chữ thu nào nữa, thế mà câu thơ nào cũng chứa đựng một tình thu, và hồn thu man mác, dào dạt. Đó là chất thi vị độc đáo của bài thơ này. Các từ láy “le te”, “lập loè”, “phất phơ”, “lóng lánh”… với các từ “rượu”, “chén”, “say nhè” – cho thấy nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ của Nguyễn Khuyến vô cùng tinh luyện, hình tượng và biểu cảm. Trước Nguyễn Khuyến gần 500 năm, Nguyễn Trãi có câu thơ Sách một hai phiên làm bầu bạnRượu năm ba chén đổi công danhTự thán – 10 Sau khi Nguyễn Khuyến mất gần nửa thế kỷ, nhà thơ Hồ Chí Minh cũng có câu thơ nói về rượu “Du kích quy lai tửu vị tàn”. Thu dạ, 1948 Đó là những chén rượu một thời, cũng là những chén rượu một đời. Chén rượu của các thi nhân – chén rượu thanh cao và sang trọng. Phân Tích Bài Thơ Thu Ẩm Đặc Sắc – Mẫu 3 Tác giả Nguyễn Khuyến, tên thật là Nguyễn Thắng. Ông được biết đến là một vị quan có phẩm chất thanh cao và thanh liêm, chính trực. Trong dân gian, đã có rất nhiêu gia thoại thú vị kể về sự gắn bó của nhà thơ Nguyễn Khuyến với người dân. Không chỉ là một vị quan chính trực, hết lòng vì nhân dân, Nguyễn Khuyến còn là một người có tâm hồn nhạy cảm, giàu cảm xúc luôn rộng mở và gắn bó với thiên nhiên, làng quê và quê hương đất nước. Quá trình phân tích chùm thơ thu của Nguyễn Khuyến, chúng ta sẽ cảm nhận rõ hơn màu sắc thu ở đồng bằng Bắc bộ. Chùm thơ thu là những bức tranh thu đặc sắc, với ngôn ngữ giàu tính biểu cảm, thể hiện tình yêu thiên nhiên tha thiết của tác giả. Phân tích chùm thơ thu của Nguyễn Khuyến, độc giả không thể không nhắc đến tác phẩm “Thu ẩm”. Nếu như Thu điếu là mùa thu câu cá thì Thu ẩm là mùa thu uống rượu. Trong bài Thu ẩm này, độc giả cảm nhận hồn thu, dáng thu và tâm tư của nhà thơ. Nhà thơ giới thiệu nhà, vườn ra tới cánh động, rặng tre, ao vườn, hàng giậu, ngõ xóm. Chúng mang dáng vẻ hun hút, quanh co… Đọc những câu thơ, chúng tả cảm nhận lúc này Nguyễn Khuyến không còn là thi nhân nữa mà trở thành ông già đang khề khà chén rượu để giả sầu. Chính với cái nhìn say sưa đó mà cảnh vật biến đổi đầy thú vị và bất ngờ “Ba gian nhà cỏ thấp le te,Ngõ tối đêm sâu, đóm lập loè. Bức tranh thu của tác giả hiện lên với hình ảnh ngôi nhà cỏ thấp le te. Thấp le te có nghĩa là rất đơn sơ và lụp xụp, mái tranh cũng xác xơ và rách nát. “Đã thế, lại điểm thêm những đốm sáng lập lòe của đom đóm trong ngõi tối đêm sâu, trông càng heo hút, cô quạnh “Lưng giậu phất phơ màu khói nhạt,Làn ao lóng lánh bóng trăng loe. Bức tranh thu ẩm ấy hiện lên sau lớp sương thu mỏng phớt phơ như làn khói mỏng. Khiến cho khung cảnh trở nên thật mờ nhạt trong màu đêm chập choạng. Đặc biệt, hình ảnh ao thu ở đây không lạnh lẽo trong veo nữa mà là lóng lánh bóng trăng. Có nghĩa là bóng trăng lúc dồn lại, lúc tỏa ra liên tiếp biến dạng, trông thật thú vị nhưng cũng đong đầy cảm xúc “Da trời ai nhuộm mà xanh ngắt,Mắt lão không vẩy cũng đỏ hoe”. Ban đêm mà thi nhân thấy bầu trời xanh ngắt, còn mắt không vầy mà cũng đỏ hoe. Thật kỳ lạ! Nhưng đó chính xác là diễn tả tâm trạng buồn bã chán chường, tìm đến rượu để giải sầu của tác giả. Chẳng thế mà thi nhân mới nói “Rượu tiếng rằng hay hay chả mấy – Độ năm ba chén đã say nhè”. Không phải say túy lúy mà chỉ say nhè, say nhẹ, say rồi ngủ mà không bê tha, phá phách. Có thể thấy theo Nguyễn Khuyến, mùa thu thật hợp để có thể lè nhè đôi ba chén rượu. Mặc dù đã lui về ở ẩn, vui thú điền viên nhưng tận sâu trong tâm hồn thi nhân vẫn đau đáu nỗi lo vận mện của đất nước. Thông qua cảnh vật, nhà thơ muốn gửi gắm sự xót xa, tiếc nuối trước tình cảnh nước nhà đang bị giặc ngoại xâm. Qua chùm thơ cũng thấy rõ được tài năng thơ ca của tác giả. Chỉ những người có tâm hồn tinh tế mới có thể viết nên những câu thơ lay động lòng người đến vậy. Xem thêm phiên bản 👉 Bạn Đến Chơi Nhà Chế Phân Tích Bài Thơ Thu Ẩm Ấn Tượng – Mẫu 4 Thu ẩm có nghĩa là mùa thu uống rượu Âm uống, uống rượu. Nó có nghĩa là một trong bài thơ Nôm về mùa thu nổi tiếng của Nguyễn Khuyến Thu điếu Mùa thu câu cá Thu vịnh mùa thu làm thơ và Thu ẩm. Cũng có nhiều bài thơ khác về mùa thu bằng chữ Hán, ba bài này đều in đậm hai nét tiêu biểu cho tâm hồn thơ của tác giả đó là dáng thu, hồn thu của đồng bằng Bắc bộ thời xưa và thắm đượm vào cảnh vật là tâm tư của nhà thơ trước cảnh tình đất nước thời gian ông từ quan về sống ở quê nhà. Tất nhiên, ở mỗi bài là dáng thu riêng và những nét tâm tình riêng. Dáng thu trong Thu ẩm là cái gì cao thăm thẳm xa vời, quen mà hóa lạ. Trời thu thì xanh ngắt những mấy từng; cây tre thu lại chỉ còn một cần trúc; khói phủ thành từng trên mặt nước; song cửa đê mặc ánh trăng vào; hoa năm nay giấu vào hoa năm ngoái, tiếng ngỗng vang trong mơ hồ… Hồn thu như lắng chìm vào bên trong, ấn chứa ở chiều sâu. Dáng thu, hồn thu trong Thu điếu là cái gì cũng như thu mình cho nhỏ bé, cho lặng im Chiếc thuyền câu bé tẻo teo, mặt ao chỉ gọn tí, mảnh lá vàng rơi vèo không thành tiếng, cá quẫy chỉ động nhẹ dưới chăn bèo. Tất cả cùng mọi vật khác đều như im lìm trong một không khí lặng yên, tĩnh mịch của một sự đợi, đợi chờ tưởng như ông câu cũng hóa đá trong tư thế tựa gối ôm cần. Tâm tư cụ Tam Nguyên ngụ trong cái lắng chìm vào bên trong, cái đợi chờ mỏi mòn trong yên lặng như thế. Với lên hai bài thơ thu kia mấy dòng như vậy là mượn chút so sánh để nhìn được rõ hơn dáng thu, hồn thu và tâm tư nhà thơ trong bài Thu ẩm này. Dáng thu, hồn thu, cả tâm tư nhà thơ có khác. Cảnh vật vẫn là cảnh vật ở hai bài thơ kia Từ nhà từ vườn nhìn ra đồng, cái ao, rặng tre, hàng dậu, lối xóm quanh co, hun hút, trời xanh trên đầu khói phủ mặt nước, bóng trăng trong ao. Khác một chút là ở hai bài thơ trên kia, Nguyễn Khuyến là nhà thơ, là ông câu cá, còn ở đây ông khề khà ly rượu. Nhưng cũng chính từ cái khác ấy mà cảnh vật dường như biến dạng, đầy bất ngờ mà thú vị. Hai câu đề Ba gian nhà cỏ thấp le teNgõ tối đêm sâu đóm lập lòe Nhà tranh mà gọi là nhà cỏ thì giá trị đã hạ một bậc nhưng chữ nghĩa khác nhau chưa mấy. Nhưng thấp le te đã rõ là thấp và chẳng còn lành lặn, mái tranh đã rách nát, xác xơ đổi dạng. Tiếp theo Ngõ tối và đêm sâu là cảnh bình thường nhưng lại có ánh lửa đom đóm lập lòe làm cho ngõ tối và đêm sâu lúc tối, lúc sáng thành ra cũng biến dạng. Hai câu thực cũng vậy Lưng giậu phất phơ màu khói nhạt,Làm áo lóng lánh bóng trăng loe. Sương thu lớt phớt như khói mỏng phủ bờ giậu khiến cho cây xanh cũng chẳng còn màu đêm. Câu thơ đặc biệt miêu tả tài tình Mặt ao cũng không còn phẳng lặng mà lăn tăn gợn sóng và ánh trăng chiếu vào nên lóng lánh; bóng trăng chiếu xuống nước gợn sóng cũng chẳng còn nguyên hình mà chao lại loe ra, dồn lại, biến dạng liên tiếp. Da trời ai nhuộm mà xanh ngắt?Mắt lão không vầy cũng đỏ hoe. Cảnh trời và cảnh mình. Trời cũng như mình đều do ai đó làm cho biến đổi Trời thì ai nhuộm mà xanh ngắt, mắt mình không vầy mà cũng đỏ hoe? Người nghiên cứu bảo cụ Tam nguyên đau mắt, có lần mắt đỏ như máu, hay là do rượu say? Say rượu cũng thường đỏ mắt. Chữ “ai” lấp lửng một mối hoài nghi, nghe lửng lơ nhưng chắc không phải vô ý. Bỗng dưng lại lấy một thế lực nào đó bên ngoài tác động vào trời, nhuộm cả da trời, rồi bỗng dưng mắt mình “đỏ hoe nước mắt”. Đây cũng là nét tâm tư của nhà thơ? Nó cùng một mạch cảm thương như hoa năm nay mà nhìn ra hoa năm ngoái, và tiếng ngỗng bay qua trời mình mà nghĩ mà ngỡ là ngỗng nước nào. Tâm tư nhà thơ không ngoài nét buồn đau trước cánh nước mất, lũ giặc lũ gian giày xéo mà mình thì bất lực, bứt rứt không nguôi. Cuối cùng là tửu tượng cũng chẳng còn bình thường Rượu tiếng rằng hay chả mấy nên chỉ dăm ba chén đã say nhè. Nhìn chung tại sao lại có sự biến hình đổi dạng này? Do rượu chăng? Sao nhìn vật một hóa thành hai, ba, hoặc nhòa nhạt tất cả. Dáng hình biến đổi, màu sắc, đường nét nổi lên nhòe ra chập lại, lảo đảo như say. Âm thanh cũng theo điệu ấy, có vẻ say. Rõ nhất và cũng bất ngờ nhất, thú vị nhất là ở tất cả các từ le te, lập lòe, đỏ hoe, say nhè. Cả câu Làn ao lóng lánh bóng trăng loe có đến bốn tiếng có phụ âm l, càng tăng gấp bội cái cảm giác ngửa nghiêng, chao đảo không chỉ ở bóng trăng dưới nước mà ở cả mặt ao, làn ao. Từ đó mà cảm giác ngả nghiêng chao đảo ấy lan tỏa ra toàn bài để rồi kết thúc bằng hai chữ “say nhè” ở chót câu cuối nhưng rồi âm thanh và ý nghĩa lại dội ngược lên toàn bài. Thế là nhà thơ một mình đối diện với bầu rượu trong đêm thu này. Sau dăm ba chén, tâm tư đã nhòa ra, thẩm thấu vào cảnh vật, khiến cho dáng thu, hồn thu đều cùng biến dạng, lảo đảo, say nhè. Cái hay, cái tài của bài thơ Thu Ẩm này là ở đó. Nhà thơ say vì nỗi buồn trước vận nước và bứt rứt khôn nguôi trong lòng. Mượn vài chén rượu cho khuây nhưng uống vào lại thấy nỗi niềm ấy hiện ra rõ rệt hơn, làm lảo đảo cả cảnh vật đêm thu. Có lúc không rượu mà tâm trạng chừng vui hơn, cụ Tam nguyên đã tự cười mình và cũng thấy người mình như say Khấp khểnh ba chân dở tỉnh say kia mà! Phân Tích Bài Thơ Thu Ẩm Nổi Bật – Mẫu 5 Hình như trong thi ca – nhắc đến mùa thu là nhắc đến nỗi buồn – nỗi buồn trải ra với đầy đủ cung bậc từ buồn thương, buồn nhở, buồn man mác… Nhưng với mỗi thi nhân, nỗi buồn lại gắn với một tâm sự khác nhau. Đến với Thu ẩm của Nguyễn Khuyến – nhà thơ của làng cảnh Việt Nam – người đọc lại được chiêm ngưỡng một bức tranh thu với với đủ sắc màu và âm thanh dưới cái nhìn, dưới con mắt của một thi nhân, của một con người đang đơn độc nâng chén với cuộc đời. Nhan đề “Thu âm” – mùa thu uống rượu – là nhãn tự, là nơi nói lên nội dung chính của bài thơ. Có thể nói, trong ba bài thơ thu của Nguyễn Khuyến, chỉ có bài Thu điếu là nhất quán về không gian, về thời gian. Còn ở bài Thu vịnh và Thu ẩm khó có thể xác định một không gian, thời gian cụ thể nào. Có thể nhà thơ Nguyễn Khuyến uống rượu làm thơ trong một đêm thu nào đó nhưng cảnh thu không nhất thiết là cảnh đêm thu. Khi cái say men đã làm thi nhân hơi chếnh choáng thì các hình ảnh lần lượt hiện về trong tâm trí dệt nên bức tranh thu đa dạng. Vẫn bằng bút pháp hiện thực quen thuộc, bằng lời thơ bình dị, Nguyễn Khuyến mở đầu bài thơ bằng cảnh Năm gian nhà cỏ thấp le teNgõ tối đêm sâu, đóm lập lòe. Nơi nhà thơ đang uống rượu làm thơ không phải là thư phòng, thư sảnh của lầu son gác tía nào mà chỉ là ngôi nhà cô đơn sơ bình dị nơi thôn dã, một ngôi nhà lợp bằng rơm rạ “thấp le te”. Từ nơi ấy thi nhân nhìn ra chỉ thấy màn đêm sâu thẳm. Đó là một đêm tối gợi lên chiều sâu không cùng, tối tăm, ánh sáng đom đóm mới lập lòe như thế. Trong đêm thu trời tối, Nguyễn Khuyến trầm ngâm bên chén rượu, những cảnh thu ở nhiều nơi cứ lập lòe ẩn hiện trong tâm trí của thi nhân. Đó là cảnh chiều thu quê hương yên ả, đầm ấm Lưng giậu phất phơ màu khói nhạt. Đó là cảnh đêm trăng mùa thu được cảm nhận từ phía ao nhà “Làn ao lóng lánh bóng trăng loe”. Đó là cảnh mùa thu trong một ngày nắng đẹp “Da trời ai nhuộm màu xanh ngắt”. Cảnh trong tâm tưởng mà rất thực, rất bình dị. Đó là cảnh quê, hồn quê từ lâu đã thấm sâu, hòa nhập vào tâm hồn Nguyễn Khuyến để khi làm thơ thi hứng lại gọi về. Trăng mùa thu là thi liệu quen thuộc nhưng thi liệu ấy lại trở nên mới mẻ sinh động lạ thường khi được nhìn qua đôi mắt của thi sĩ làng quê Yên Đổ. Nhà thơ Xuân Diệu cho đây “là một câu thơ hiếm có”, một phát hiện của nhà thơ có tài “… câu Làn ao lóng lánh bóng trăng loe, là của một thi sĩ thật có tài, bóng trăng vàng từ mặt nước ao sáng lóe ra, bốn chữ khả năng làn, lóng, lánh, loe gợi chất vàng nước kim loại, ba dấu sắc khứ thanh lóng, lánh, bóng gợi ánh bắn đi; từ loe, âm oe gợi cái gì tròn tròn xoe như cái ao chẳng hạn”. Xuân Diệu đã phân tích rất tinh tế khả năng gợi tả của ngôn ngữ ở phương diện ngữ âm. Nhưng để có cái hay, cái đẹp, cái độc đáo ấy trước hết là ở cách nhìn, ở hướng tiếp cận. Thi sĩ bao đời nay miêu tả trăng thu. Nhìn trăng qua ao mới có vẻ đẹp lóng lánh như thế, trăng từ trong ao hắt ánh sáng lên mới tạo ra những chùm sáng lòe như thế. Một thi sĩ tài năng thì không có đề tài nào là mòn cũ, không có câu chữ nào là mất đi sức sống. Thu ẩm là mùa thu uống rượu mà mãi cuối bài thơ mới thấy hình ảnh người uống rượu xuất hiện Mắt lão không vầy cũng đỏ hoeRượu tiếng rằng hay, hay chả mấyĐộ năm ba chén đã say nhè. Đó là chân dung tự họa của nhà thơ Nguyễn Khuyến trong những năm tháng ẩn dật ở quê nhà. Nỗi niềm gì đang xót lòng xót dạ người nho sĩ ấy đến mức mắt đỏ hoe, rớm máu? Từ đôi mắt, người đọc nhìn thấu nỗi buồn đau của cụ Tam Nguyên. Đã từng đỗ đầu thi hương, thi hội đã từng được vua ban chức này tước nọ mà Nguyễn Khuyến không chút đắc ý về cuộc đời mình. Có lúc ông còn thấy việc học cũ là viển vông vô ích, việc làm quan trong thời buổi ấy là nỗi nhục. Tưởng là trở về vườn xưa chốn cũ để thanh thản nỗi lòng, nào ngờ đâu lòng vẫn nặng buồn đau Ngọn gió đông ngoảnh lại lệ đầm khănTình thương hải tang điền qua mấy lớp. Trở về vườn cũ Để dịu bớt cơn đau, để khuây khỏa nỗi buồn, Nguyễn Khuyến đã làm bạn với túi thơ, bầu rượu. Ở Trung Quốc có nhà thơ Lí Bạch làm nhiều bài thơ về rượu, ở nước Nam ta không có ai nói về rượu trong thơ nhiều như Nguyễn Khuyến. Nhà thơ hay uống rượu nhưng chả uống được nhiều. Người ta uống rượu để mà quên, để mà say còn Nguyễn Khuyến uống rượu lại càng nhớ, lại càng buồn. Cái tôi trữ tình của nhà thơ trong bài Thu ẩm bề ngoài thì có vẻ say nhè nhưng thực chất là rất tỉnh. Say nhè để quên mọi chuyện nhưng nhà thơ không quên được nỗi đau buồn về non sông đất nước. Bức tranh thi nhân uống rượu trong đêm thu khép lại với những vần thơ đầy xúc động. Có bài thơ, ngoài nhan đề Thu ẩm – chẳng có thêm một chữ “thu” nào, thế mà hồn thu, hơi thu lan tỏa khắp không gian, thấm vào vạn vật và dư âm thu vẫn lan tỏa mãi trong lòng người đọc. Với Thu ẩm, nhà thơ đã viết nên một áng thơ mang đậm dấu ấn và âm hưởng riêng của một Nguyễn Khuyến tài tình và tinh tế, qua đó bộc lộ tâm sự, nỗi buồn về vận nước. Niềm yêu nước của Nguyễn Khuyến biểu hiện thâm trầm, kín đáo mà không kém phần sâu sắc.
Bài học cùng chủ đề Phân tích bài Thu ẩm của Nguyễn Khuyến. Bài 1 Nhà thơ Xuân Diệu viết Nguyễn Khuyến là nhà thơ của làng cảnh Việt Nam. Hãy dựa vào chùm thơ thu của ông để làm sáng tỏ nhận định trên. Bài 2 Nhà thơ Xuân Diệu viết Nguyễn Khuyến là nhà thơ của làng cảnh Việt Nam. Hãy làm sáng tỏ nhận định trên bằng việc phân tích ba bài thơ thu của ông. Ngữ pháp tiếng anh hay nhất BÀI LÀM Hình như trong thi ca - nhắc đến mùa thu là nhắc đến nỗi buồn - nỗi buồn trải ra với đầy đủ cung bậc từ buồn thương, buồn nhở, buồn man mác... Nhưng với mỗi thi nhân, nỗi buồn lại gắn với một tâm sự khác nhau. Đến với Thu ẩm của Nguyễn Khuyến - nhà thơ của làng cảnh Việt Nam - người đọc lại được chiêm ngưỡng một bức tranh thu với với đủ sắc màu và âm thanh dưới cái nhìn, dưới con mắt của một thi nhân, của một con người đang đơn độc nâng chén với cuộc đời. Nhan đề “Thu âm” - mùa thu uống rượu - là nhãn tự, là nơi nói lên nội dung chính của bài thơ. Có thể nói, trong ba bài thơ thu của Nguyễn Khuyến, chỉ có bài Thu điếu là nhất quán về không gian, về thời gian. Còn ở bài Thu vịnh và Thu ẩm khó có thể xác định một không gian, thời gian cụ thể nào. Có thể nhà thơ Nguyễn Khuyến uống rượu làm thơ trong một đêm thu nào đó nhưng cảnh thu không nhất thiết là cảnh đêm thu. Khi cái say men đã làm thi nhân hơi chếnh choáng thì các hình ảnh lần lượt hiện về trong tâm trí dệt nên bức tranh thu đa dạng. Vẫn bằng bút pháp hiện thực quen thuộc, bằng lời thơ bình dị, Nguyễn Khuyến mở đầu bài thơ bằng cảnh Năm gian nhà cỏ thấp le te Ngõ tối đêm sâu, đóm lập lòe. Nơi nhà thơ đang uống rượu làm thơ không phải là thư phòng, thư sảnh của lầu son gác tía nào mà chỉ là ngôi nhà cô đơn sơ bình dị nơi thôn dã, một ngôi nhà lợp bằng rơm rạ “thấp le te”. Từ nơi ấy thi nhân nhìn ra chỉ thấy màn đêm sâu thẳm. Đó là một đêm tối gợi lên chiều sâu không cùng, tối tăm, ánh sáng đom đóm mới lập lòe như thế. Trong đêm thu trời tối, Nguyễn Khuyến trầm ngâm bên chén rượu, những cảnh thu ở nhiều nơi cứ lập lòe ẩn hiện trong tâm trí của thi nhân. Đó là cảnh chiều thu quê hương yên ả, đầm ấm Lưng giậu phất phơ màu khói nhạt. Đó là cảnh đêm trăng mùa thu được cảm nhận từ phía ao nhà “Làn ao lóng lánh bóng trăng loe”. Đó là cảnh mùa thu trong một ngày nắng đẹp “Da trời ai nhuộm màu xanh ngắt”. Cảnh trong tâm tưởng mà rất thực, rất bình dị. Đó là cảnh quê, hồn quê từ lâu đã thấm sâu, hòa nhập vào tâm hồn Nguyễn Khuyến để khi làm thơ thi hứng lại gọi về. Trăng mùa thu là thi liệu quen thuộc nhưng thi liệu ấy lại trở nên mới mẻ sinh động lạ thường khi được nhìn qua đôi mắt của thi sĩ làng quê Yên Đổ. Nhà thơ Xuân Diệu cho đây “là một câu thơ hiếm có”, một phát hiện của nhà thơ có tài “... câu Làn ao lóng lánh bóng trăng loe, là của một thi sĩ thật có tài, bóng trăng vàng từ mặt nước ao sáng lóe ra, bốn chữ khả năng làn, lóng, lánh, loe gợi chất vàng nước kim loại, ba dấu sắc khứ thanh lóng, lánh, bóng gợi ánh bắn đi; từ loe, âm oe gợi cái gì tròn tròn xoe như cái ao chẳng hạn”. Xuân Diệu đã phân tích rất tinh tế khả năng gợi tả của ngôn ngữ ở phương diện ngữ âm. Nhưng để có cái hay, cái đẹp, cái độc đáo ấy trước hết là ở cách nhìn, ở hướng tiếp cận. Thi sĩ bao đời nay miêu tả trăng thu. Nhìn trăng qua ao mới có vẻ đẹp lóng lánh như thế, trăng từ trong ao hắt ánh sáng lên mới tạo ra những chùm sáng lòe như thế. Một thi sĩ tài năng thì không có đề tài nào là mòn cũ, không có câu chữ nào là mất đi sức sống. Thu ẩm là mùa thu uống rượu mà mãi cuối bài thơ mới thấy hình ảnh người uống rượu xuất hiện Mắt lão không vầy cũng đỏ hoe Rượu tiếng rằng hay, hay chả mấyĐộ năm ba chén đã say nhè. Đó là chân dung tự họa của nhà thơ Nguyễn Khuyến trong những năm tháng ẩn dật ở quê nhà. Nỗi niềm gì đang xót lòng xót dạ người nho sĩ ấy đến mức mắt đỏ hoe, rớm máu? Từ đôi mắt, người đọc nhìn thấu nỗi buồn đau của cụ Tam Nguyên. Đã từng đỗ đầu thi hương, thi hội đã từng được vua ban chức này tước nọ mà Nguyễn Khuyến không chút đắc ý về cuộc đời mình. Có lúc ông còn thấy việc học cũ là viển vông vô ích, việc làm quan trong thời buổi ấy là nỗi nhục. Tưởng là trở về vườn xưa chốn cũ để thanh thản nỗi lòng, nào ngờ đâu lòng vẫn nặng buồn đau Ngọn gió đông ngoảnh lại lệ đầm khănTình thương hải tang điền qua mấy lớp. Trở về vườn cũ Để dịu bớt cơn đau, để khuây khỏa nỗi buồn, Nguyễn Khuyến đã làm bạn với túi thơ, bầu rượu. Ở Trung Quốc có nhà thơ Lí Bạch làm nhiều bài thơ về rượu, ở nước Nam ta không có ai nói về rượu trong thơ nhiều như Nguyễn Khuyến. Nhà thơ hay uống rượu nhưng chả uống được nhiều. Người ta uống rượu để mà quên, để mà say còn Nguyễn Khuyến uống rượu lại càng nhớ, lại càng buồn. Cái tôi trữ tình của nhà thơ trong bài Thu ẩm bề ngoài thì có vẻ say nhè nhưng thực chất là rất tỉnh. Say nhè để quên mọi chuyện nhưng nhà thơ không quên được nỗi đau buồn về non sông đất nước. Bức tranh thi nhân uống rượu trong đêm thu khép lại với những vần thơ đầy xúc động. Có bài thơ, ngoài nhan đề Thu ẩm - chẳng có thêm một chữ “thu” nào, thế mà hồn thu, hơi thu lan tỏa khắp không gian, thấm vào vạn vật và dư âm thu vẫn lan tỏa mãi trong lòng người đọc. Với Thu ẩm, nhà thơ đã viết nên một áng thơ mang đậm dấu ấn và âm hưởng riêng của một Nguyễn Khuyến tài tình và tinh tế, qua đó bộc lộ tâm sự, nỗi buồn về vận nước. Niềm yêu nước của Nguyễn Khuyến biểu hiện thâm trầm, kín đáo mà không kém phần sâu sắc.
phân tích thu ẩm