chỉ số progesterone trước khi chuyển phôi

SKĐS - ThS.BS. Lê Quang Thanh, Giám đốc BV. Từ Dũ, cho biết thuốc tránh thai hiện nay được chỉ định khá rộng rãi trong điều trị các bệnh phụ khoa như: xuất huyết tử cung bất thường cơ năng, lạc nội mạc tử cung, tái tạo chu kỳ kinh sau nạo hút thai, u xơ tử cung, nang buồng trứng, tiền mãn kinh là những noãn bào thứ cấp đang sinh trưởng, khi noãn bao chín sẽ nổi lên bề mặt buồng trứng Có 4 loại noãn nang trong buồng trứng: noãn nang nguyên thủy nhỏ nhất và được bao bọc bởi lớp tế bào vảy. Noãn nang nguyên thủy phát triển Ngày 15/10/2020 Chính Phủ ban hành Nghị định 122/2020/NĐ-CP phối hợp thủ tục đăng ký thành lập doanh nghiệp, đăng ký sử dụng hóa đơn, khai trình việc sử dụng lao động, cấp mã số đơn vị tham gia BHXH của doanh nghiệp. Nồng độ của progesterone huyết thanh dao động trong suốt chu kỳ kinh nguyệt, đạt đỉnh trước ngày hành kinh 7 ngày và cao hơn ở phụ nữ mang thai. Trong giai đoạn nang noãn (trước khi rụng trứng), nồng độ progesterone duy trì ở mức thấp (0,2-1,5 ng/ml). Sau khi nồng độ hormone LH U cơ tử cung hay còn gọi là u xơ tử cung, là loại u lành tính phổ biến nhất của vùng chậu phụ nữ, được tìm thấy ở hơn 35% phụ nữ trên 30 tuổi. Wie Kann Ich Kostenlos Eine Frau Kennenlernen. Thụ tinh ống nghiệm là một phương pháp phổ biến thường được lựa chọn để điều trị hiếm muộn. Xét nghiệm beta hCG sau 14 ngày chuyển phôi có ý nghĩa rất quan trọng giúp xác định quá trình thụ thai có thành công hay tinh trong ống nghiệm là một phương pháp điều trị hiếm muộn, trong đó quá trình thụ tinh được diễn ra trong ống nghiệm, sau khi phôi thai hình thành sẽ được chuyển vào tử cung của người phụ nữ để tiếp tục phát tinh trong ống nghiệm thường trải qua các bước như sauKhám và đánh giá tình trạng sức khỏe sinh sản của hai vợ chồng. Người vợ sẽ được làm các xét nghiệm định lượng hormone sinh dục, xét nghiệm máu kiểm tra có mắc các bệnh lây nhiễm và siêu âm phụ khoa. Trong khi đó, người chồng sẽ làm các xét nghiệm để đánh giá chất lượng tinh trùng và xét nghiệm các bệnh lây vợ sẽ được tiêm thuốc kích thích buồng trứng trong 9-11 ngày. Quá trình kích thích buồng trứng cần được theo dõi chặt chẽ để xác định được đúng thời điểm tiêm mũi kích rụng khi kích rụng trứng 36-40 giờ, người vợ sẽ được gây mê để chọc hút trứng trong khi người chồng sẽ được lấy tinh và tinh trùng sẽ được chuyển thụ tinh trong ống nghiệm để tạo phôi. Quá trình nuôi cấy này thường diễn ra 2-5 ngày trước khi chuyển phôi vào tử cung người vợ. Quá trình thụ tinh có thể thu được nhiều phôi đạt chất lượng, một số phôi sẽ được chuyển vào tử cung, một số phôi sẽ được trữ đông để có thể sử dụng trong những lần chuyển phôi phôi Là bước rất quan trọng trong quá trình thụ tinh, bác sĩ sẽ chuyển phôi khi niêm mạc tử cung có đủ độ dày và chất lượng tốt, thuận lợi cho sự phát triển khi phôi được đặt vào tử hiện xét nghiệm beta hcg sau 14 ngày chuyển dõi thai nếu quá trình thụ tinh thành công. Nồng độ hCG ở người bình thường 25 mUI/ml Hormon hCG là gì?Hormon hCG Human Chorionic Gadonatropin là hormon hướng sinh dục rau thai, được tiết ra rất sớm trong giai đoạn đầu của thai kỳ, ngay khi trứng thụ tinh làm tổ ở niêm mạc tử cung, do đó hormone hCG là một chỉ điểm quan trọng giúp xác định tình trạng có thai , ngoài ra theo dõi nồng độ hCG trong thai kỳ giúp theo dõi sự phát triển của độ hCG ở người bình thường 25 mUI/ml, nếu nồng độ trong khoảng 6-24 mUI/ml thì tình trạng có thai hay không chưa rõ, cần làm thêm các xét nghiệm và theo dõi để xác định. Nồng độ hCG thường thấp hơn thai nghén bình thường trong các trường hợp sảy thai, thai ngừng phát triển, thai ngoài tử cung. Nồng độ hCG cao trong các trường hợp phụ nữ mang đa thai, chửa trứng, thai ngoài tử cung,... Vai trò của xét nghiệm beta hCG sau 14 ngày chuyển phôiBình thường sau 14 ngày chuyển phôi, người vợ sẽ đến bệnh viện để kiểm tra nồng độ beta hCG, nếu nồng độ beta hCG cao hơn 25mUI/ml là đã có thai. Do nồng độ hCG giai đoạn đầu thai kỳ tăng rất nhanh, thông thường nồng độ hCG sẽ tăng gấp đôi sau mỗi 48-72 giờ, nên nếu sau hai ngày xét lại nồng độ beta hCG tăng khoảng 1,5 lần trở lên so với lần đầu thì chứng tỏ thai đang phát nồng độ beta hCG tăng thấp kèm theo các dấu hiệu bất thường như đau bụng âm ỉ kéo dài, ra máu âm đạo,... thì có thể phôi thai đang thoái triển, khả năng giữ thai thấp. Tuy nhiên, nếu được các bác sĩ xử trí tích cực và sau 48 giờ xét nghiệm lại, nồng độ hCG tăng ít nhất gấp đôi thì vẫn còn hy vọng giữ được kết quả xét nghiệm beta hCG sau 14 ngày chuyển phôi cao so với mức bình thường, thì có khả năng sẽ mang đa thai, tuy nhiên trong thời gian dưỡng thai chờ siêu âm, nếu có các dấu hiệu như ra máu âm đạo kèm đau bụng thì cần đến bệnh viện thăm khám kịp thời để loại trừ khả năng mang thai ngoài tử kết quả xét nghiệm nồng độ hCG sau 2 ngày không tăng hoặc giảm thì cần tiếp tục theo dõi. Nếu nồng độ hCG giảm < 5mUI/ml thì đã bị sảy thai. Trong trường hợp này, các phôi trữ đông sẽ được tiếp tục chuyển vào tử cung ở các chu kỳ tiếp khi các phôi được cấy vào tử cung đã phát triển thành công, thai phụ cần dành nhiều thời gian nghỉ ngơi, ăn uống đủ chất, vận động nhẹ nhàng phù hợp và đặc biệt là phải siêu âm và khám thai định kỳ theo lịch hẹn của bác sĩ để đảm bảo quá trình mang thai được an toàn. Trung tâm hỗ trợ sinh sản IVF Vinmec đã hỗ trợ sinh sản cho hơn rất nhiều cặp vợ chồng hiếm muộn với tỷ lệ thành công trên 40% Trung tâm hỗ trợ sinh sản IVF Vinmec được thành lập từ tháng 11 năm 2014 với hệ thống cơ sở vật chất hiện đại cùng đội ngũ chuyên gia trình độ cao gồm các giáo sư, tiến sĩ, bác sĩ trong và ngoài nước. Đến nay, trung tâm đã hỗ trợ sinh sản cho hơn 1000 cặp vợ chồng hiếm muộn trên khắp Việt Nam với tỉ lệ thành công 45%-50%, tỉ lệ thành công này tương đương với các nước phát triển như Mỹ, Anh, Úc,.. Để đặt lịch khám tại viện, Quý khách vui lòng bấm số HOTLINE hoặc đặt lịch trực tiếp TẠI ĐÂY. Tải và đặt lịch khám tự động trên ứng dụng MyVinmec để quản lý, theo dõi lịch và đặt hẹn mọi lúc mọi nơi ngay trên ứng dụng. Khảo Sát Nồng Độ Progesterone Huyết Thanh Trước Chuyển Phôi Và Mối Liên Quan Với Một Số Đặc Điểm Lâm Sàng Ở Chu Kỳ Chuyển Phôi Đông LạnhKhảo Sát Nồng Độ Progesterone Huyết Thanh Trước Chuyển Phôi Và Mối Liên Quan Với Một Số Đặc Điểm Lâm Sàng Ở Chu Kỳ Chuyển Phôi Đông LạnhMục tiêu Khảo sát nồng độ progesterone huyết thanh trước chuyển phôi và mối liên quan với một số đặc điểm lâm sàng ở chu kỳ chuyển phôi đông lạnh. Đối tượng và phương pháp Nghiên cứu quan sát mô tả, tiến cứu trên 126 chu kỳ chuyển phôi đông lạnh giai đoạn phôi nang tại Viện Mô phôi lâm sàng Quân đội, Học viện Quân y, sử dụng liệu pháp thay thế hormone để chuẩn bị nội mạc tử cung và hỗ trợ hoàng thể bằng 800 mg progesterone vi hạt âm đạo/ngày phối hợp 20 mg dydrogesterone đường uống. Định lượng progesterone huyết thanh một ngày trước ngày chuyển phôi. Đánh giá nồng độ progesterone huyết thanh ng/mL, tuổi, cân nặng, chỉ số khối cơ thể trung bình BMI và độ dày niêm mạc tử cung ngày mở cửa sổ làm tổ. Kết quả Nồng độ progesterone huyết thanh trung bình trước ngày chuyển phôi là 14,25 ± 6,76 ng/mL. Không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về sự tương quan giữa các yếu tố tuổi r 0,1189, p = 0,185, cân nặng r -0,0208, p = 0,817, BMI r -0,0417, p = 0,643 và niêm mạc tử cung ... BS. Nguyễn Khánh Linh GIỚI HIỆU Trữ lạnh, rã đông phôi và chuyển phôi trữ là một khâu quan trọng trong thụ tinh trong ống nghiệm. Để thực hiện được một chu trình thụ tinh trong ống nghiệm hoàn chỉnh, một trung tâm hỗ trợ sinh sản không những phải thành thạo các phác đồ kích thích buồng trứng, chọc hút trứng, nuôi cấy phôi và chuyển phôi, mà còn phải ứng dụng được kỹ thuật trữ lạnh và rã đông phôi để chuyển phôi trữ. Chuyển phôi trữ giúp trữ lại những phôi dư có chất lượng tốt của bệnh nhân, tránh được sự lãng phí, tiết kiệm chi phí cho lần điều trị sau, tăng tỉ lệ có thai cộng dồn và đặc biệt là giảm được gánh nặng về thể chất và tâm lý cho bệnh nhân do quá trình kích thích buồng trứng mang lại. Hiện nay, chuyển phôi trữ còn được chứng minh là tốt hơn so với chuyển phôi tươi về nhiều mặt. Cụ thể là chuyển phôi trữ không gặp các biến chứng của quá kích buồng trứng, kết cục sản khoa tốt hơn so với chuyển phôi tươi, một số trung tâm còn áp dụng phương pháp trữ phôi toàn bộ để tránh hoàn toàn quá kích buồng trứng, chỉ chuyển phôi trữ và đạt tỉ lệ có thai tương đương hoặc thậm chí cao hơn chuyển phôi tươi. Chính vì vậy, chuyển phôi trữ đang là xu thế mới của thụ tinh trong ống nghiệm. Khác với kích thích buồng trứng và chuyển phôi tươi, để chuyển phôi trữ, bệnh nhân chỉ cần được chuẩn bị nội mạc tử cung để tạo điều kiện tối ưu nhất cho nội mạc tử cung đón nhận phôi sau khi đã qua quá trình trữ lạnh và rã đông vào làm tổ. Có nhiều phác đồ để chuẩn bị nội mạc tử cung trong chuyển phôi trữ, các phác đồ này đều dựa trên cơ sở hiểu biết về sinh lý của chu kỳ nội mạc tử cung cũng như vai trò của các nội tiết tố sinh sản tác động lên nội mạc tử cung nhằm giúp hình thành và duy trì thai kỳ. SINH LÝ CHU KỲ NỘI MẠC TỬ CUNG Nội mạc tử cung biến đổi có tính chất chu kỳ, dưới tác động của các nội tiết tố estrogen và progesterone do nang noãn của buồng trứng tiết ra, tạo ra chu kỳ kinh có tính chất đều đặn và ổn định. Vào đầu chu kỳ kinh, nội mạc tử cung bong tróc ra do sự sụt giảm đột ngột của estrogen và progesterone, tạo ra kinh nguyệt. Vào pha nang noãn của chu kỳ kinh, ở buồng trứng sẽ có nhiều nang noãn đi vào quá trình chiêu mộ, chọn lọc, phát triển để cuối cùng có một nang phát triển vượt trội và rụng trứng. Trong giai đoạn này, estrogen do các nang noãn tiết ra vào nửa pha đầu và do nang trội tiết ra vào nửa pha cuối của giai đoạn nang noãn sẽ tác động lên nội mạc tử cung giúp nội mạc tử cung dày lên, tăng sinh nhiều mạch máu. Sau khi rụng trứng, hoàng thể được thành lập sẽ tiết ra đồng thời estrogen và progesterone. Progesterone sẽ biến đổi nội mạc tử cung sang giai đoạn chế tiết, chuẩn bị cho sự làm tổ của phôi. Cửa sổ làm tổ của nội mạc tử cung Sau khi trứng rụng, dưới tác động của progesterone, nội mạc tử cung sẽ chuyển sang giai đoạn chế tiết, chuẩn bị đón phôi vào làm tổ. Người ta thấy rằng không phải lúc nào nội mạc tử cung cũng sẵn sàng chấp nhận sự làm tổ của phôi. Mặc dù được tiếp xúc với progesterone trong suốt pha hoàng thể kéo dài từ 10-14 ngày, nhưng khoảng thời gian nội mạc tử cung thuận lợi nhất cho sự làm tổ của phôi chỉ kéo dài khoảng 3-4 ngày. Khoảng thời gian này được gọi là cửa sổ làm tổ của phôi, và chỉ xuất hiện khoảng từ ngày thứ 20 đến ngày thứ 23 của một chu kỳ kinh 28 ngày, tức sau khi xảy ra hiện tượng rụng trứng 6 đến 9 ngày. Đây cũng chính là thời điểm phù hợp cho phôi nang vào đến buồng tử cung để làm tổ. Ngoài cửa sổ làm tổ này của nội mạc tử cung, dù phôi được chuyển có chất lượng tốt đến mấy thì phôi cũng không thể làm tổ. Vai trò của estrogen và progesterone đối với nội mạc tử cung Vai trò của estrogen Estrogen tác động lên nội mạc tử cung trong suốt pha nang noãn, làm cho nội mạc tử cung tăng sinh. Các tác động của estrogen bao gồm  Làm cho nội mạc tử cung dày lên, các ống tuyến phát triển dài và thẳng.  Kích thích sự tổng hợp của ít nhất 12-14 polypeptide cũng như sự tổng hợp các thụ thể của chính estrogen và progesterone. Do đó, thời gian tiếp xúc của nội mạc tử cung với estrogen phải đầy đủ, ít nhất là 12-14 ngày để nội mạc tử cung có thụ thể với progesterone.  Tác động trên tế bào biểu mô, làm cho tế bào biểu mô nhạy cảm và đáp ứng với các tín hiệu của phôi nang, thúc đẩy sự bám dính của phôi nang vào các biểu mô nội mạc tử cung, thuận lợi cho sự làm tổ.  Kích thích sự giải phóng các chất tiết của biểu mô tuyến, như các cytokine, giúp hoạt hóa tiến trình làm tổ của phôi. Vai trò của progesterone Progesterone bắt đầu tăng nhẹ ngay trước thời điểm sắp rụng trứng, sau đó được tiết ra nhiều bởi hoàng thể. Progesterone giúp chuyển nội mạc tử cung sang giai đoạn chế tiết, bao gồm  Làm mô đệm tăng phù nề trên diện rộng.  Tăng thể tích mạch máu lên gấp 3 lần.  Làm các ống tuyến trở nên ngoằn ngoèo, chế tiết nhiều glycogen.  Kích thích sự hình thành của các pinopode hiện diện trong giai đoạn cửa sổ làm tổ và giúp khởi động cho tiến trình màng rụng hóa. Progesterone là nội tiết tố chính trong pha hoàng thể của nội mạc tử cung. Thiếu progesterone, còn gọi là suy hoàng thể, phôi chắc chắn sẽ làm tổ thất bại. CÁC PHÁC ĐỒ CHUẨN BỊ NỘI MẠC TỬ CUNG Chuẩn bị nội mạc tử cung trong chuyển phôi trữ có mục đích là đồng bộ hóa nội mạc tử cung và giai đoạn phát triển của phôi, nhằm tăng khả năng phôi làm tổ và thụ thai. Muốn đạt được điều này, nội mạc tử cung phải có độ dày tối thiểu là 8mm, đồng thời cửa sổ làm tổ của nội mạc tử cung được tạo ra một cách nhân tạo phải càng giống với sinh lý tự nhiên càng tốt. Hiện có 3 phác đồ chính trong chuẩn bị nội mạc tử cung để chuyển phôi trữ. Theo dõi chu kỳ tự nhiên Theo dõi chu kỳ tự nhiên là phương pháp chuẩn bị nội mạc tử cung bằng chu kỳ tự nhiên, rất ít can thiệp lên chu kỳ sinh lý của bệnh nhân. Bệnh nhân sẽ được theo dõi sự phát triển của nang noãn với siêu âm đầu dò ngả âm đạo. Thông thường, lần siêu âm đầu tiên của bệnh nhân được thực hiện vào những ngày đầu của chu kỳ kinh ngày 1 đến ngày 5 vòng kinh để loại trừ nang cơ năng. Những lần siêu âm sau sẽ được thực hiện cách mỗi 1-4 ngày tùy theo sự phát triển của nang noãn. Khi nang noãn có kích thước dưới 12mm, trung bình mỗi ngày nang noãn lớn thêm 1mm, có thể siêu âm mỗi 3-4 ngày. Khi nang noãn có kích thước từ 12mm trở lên, trung bình mỗi ngày nang noãn lớn thêm 2mm, cần siêu âm sát hơn, mỗi ngày hoặc cách ngày để tránh vuột mất thời điểm trứng rụng. Khi nang noãn có kích thước từ 18mm trở lên, có thể tiếp tục theo dõi cho đến khi trứng rụng hoặc tiêm thuốc kích thích rụng trứng. Phôi sẽ được chuyển vào buồng tử cung vào ngày 2 hoặc ngày 3 sau khi trứng rụng tùy theo thời điểm trữ phôi là phôi ngày 2 hay ngày 3. Trong trường hợp phôi được nuôi cấy và trữ phôi ngày 5 giai đoạn phôi nang, sẽ chuyển phôi sau thời điểm trứng rụng 5 ngày. Hỗ trợ hoàng thể với progesterone đặt âm đạo được chứng minh là cho tỉ lệ thành công cao hơn so với không hỗ trợ hoàng thể. Thử thai được thực hiện sau chuyển phôi 2 tuần. Những bất lợi của phác đồ theo dõi chu kỳ tự nhiên  Thời gian chuẩn bị nội mạc tử cung phụ thuộc hoàn toàn vào chu kỳ tự nhiên của bệnh nhân không thuận tiện trong trường hợp chu kỳ kinh của bệnh nhân quá dài, đặc biệt ở bệnh nhân buồng trứng đa nang, rối loạn rụng trứng. Vì vậy, phác đồ này chỉ phù hợp với những bệnh nhân có chu kỳ kinh đều, kéo dài khoảng từ 26 đến 35 ngày.  Lịch theo dõi bằng siêu âm phụ thuộc vào sự phát triển của nang noãn, khó linh động được trong những ngày cuối tuần và ngày nghỉ lễ.  Nếu xảy ra rụng trứng sớm, mất đi thời điểm thích hợp để chuyển phôi vào đúng cửa sổ làm tổ của nội mạc tử cung, bắt buộc phải hủy chu kỳ điều trị. Ngày CK 1 2-5 8-13 14 15 16 …… 30 Siêu âm loại trừ nang cơ năng Siêu âm Rụng trứng Chuyển phôi N2 Thử thai Hỗ trợ hoàng thể Chuẩn bị nội mạc tử cung bằng chu kỳ tự nhiên Sử dụng thuốc nội tiết ngoại sinh Sử dụng thuốc nội tiết ngoại sinh là phương pháp chuẩn bị nội mạc tử cung bằng estrogen và progesterone đưa từ ngoài cơ thể vào. Bệnh nhân sẽ được cho dùng estrogen thường dưới dạng uống ngay từ đầu chu kỳ kinh thường từ ngày 2 vòng kinh với liều từ 4 đến 8 mg/ngày chia làm 2 đến 4 lần. Với liều trên, sự rụng trứng sẽ bị ức chế. Siêu âm vào ngày 7 vòng kinh để đánh giá độ dày và hình ảnh của nội mạc tử cung. Liều estrogen có thể được duy trì hoặc tăng liều tùy theo kết quả siêu âm. Liều tối đa là 16 mg/ngày. Lịch hẹn siêu âm có thể linh động từ 3-5 ngày tùy theo kết quả siêu âm của nội mạc tử cung. Khi nội mạc tử cung dày từ 8mm trở lên và có hình ảnh đẹp hình hạt cà phê, quyết định chuyển phôi trữ. Thời điểm quyết định có thể chuyển phôi trữ chỉ cần dựa vào đặc điểm của nội mạc tử cung. Các nghiên cứu trước đây đều cho thấy việc định lượng nồng độ estrogen là không cần thiết khi quyết định chuyển phôi, vì nồng độ estrogen không khác biệt giữa những bệnh nhân có nội mạc tử cung khác nhau và không giúp tiên lượng khả năng có thai của bệnh nhân. Tuy nhiên, dù nội mạc tử cung đã đạt tiêu chuẩn nêu trên, nhưng cần sử dụng estrogen ngoại sinh tối thiểu là 12 ngày thì mới bắt đầu cho progesterone để chuyển phôi trữ. Thời điểm bắt đầu progesterone trước khi chuyển phôi phụ thuộc vào tuổi của phôi khi được trữ lạnh. Nếu phôi trữ ngày 2 thì sử dụng progesterone 2 ngày trước khi chuyển phôi và tương tự đối với các tuổi phôi khác. Có thể dùng progesterone đặt âm đạo, đường uống hoặc đường tiêm bắp đều được, thường sử dụng đường đặt âm đạo vì tác dụng tại chỗ tốt, ít tác dụng phụ, dễ sử dụng. Liều dùng thay đổi 400-800 mg/ngày. Cùng với progesterone, estrogen sẽ tiếp tục được duy trì nhưng với liều tối thiểu giảm xuống liều sử dụng ở đầu chu kỳ cho đến ngày thử thai 14 ngày sau chuyển phôi. Ưu điểm  Có thể áp dụng cho hầu hết mọi bệnh nhân bất kể chu kỳ kinh.  Đơn giản, dễ thực hiện, ít can thiệp hơn so với phác đồ kích thích buồng trứng.  Chủ động được ngày hẹn siêu âm và ngày chuyển phôi.  Không lo ngại về vấn đề rụng trứng sớm. Khuyết điểm  Chi phí cao hơn so với chu kỳ tự nhiên nhưng vẫn chấp nhận được đối với hầu hết mọi bệnh nhân.  Không áp dụng được cho những bệnh nhân có chống chỉ định dùng estrogen ngoại sinh như bệnh nhân có bệnh lý về gan, có nguy cơ thuyên tắc mạch, hoặc có tác dụng phụ nhiều khi dùng thuốc. Ngày CK 1-13 14 15 16 …… 30 Siêu âm đánh giá NMTC NMTC đạt Chuyển phôi N2 Thử thai Estrogen E + P Chuẩn bị nội mạc tử cung bằng nội tiết tố ngoại sinh Kích thích buồng trứng Kích thích buồng trứng để chuyển phôi trữ là phương pháp sử dụng gonadotropin để kích thích nhiều nang noãn phát triển, các nang noãn này sẽ tiết ra estrogen nội sinh cao hơn so với mức sinh lý. Estrogen nội sinh sẽ tác động làm dày nội mạc tử cung. Để tránh nguy cơ quá kích buồng trứng, phác đồ kích thích buồng trứng trong chuyển phôi trữ nên được thực hiện tương tự như một chu kỳ kích thích buồng trứng để bơm tinh trùng vào buồng tử cung IUI hoặc để thụ tinh trong ống nghiệm với phương pháp trưởng thành trứng non IVM. Điều này có nghĩa là chúng ta chỉ cần kích thích buồng trứng nhẹ với liều thấp vừa phải để kích thích một vài nang noãn phát triển, nhằm tiết ra estrogen nội sinh cao hơn so mức sinh lý để tác động lên nội mạc tử cung. Trong trường hợp kích thích buồng trứng theo kiểu bơm tinh trùng vào buồng tử cung, bệnh nhân được cho thuốc kích thích buồng trứng, siêu âm theo dõi nội mạc tử cung và sự phát triển của nang noãn giống như một chu kỳ IUI. Khi có ít nhất 1 nang 18mm, cho thuốc rụng trứng. Vào ngày rụng trứng, bổ sung progesterone. Phôi được chuyển vào buồng tử cung vào 2-5 ngày sau rụng trứng tùy theo tuổi phôi khi trữ. Chuẩn bị nội mạc tử cung theo kiểu IVM có kích thích buồng trứng nhẹ và ngắn ngày hơn. Bệnh nhân sẽ được tiêm thuốc kích thích buồng trứng 75-100 IU trong vòng 3 ngày, thường vào ngày thứ 9 đến ngày 11 chu kỳ. Tiêm hCG vào ngày kế tiếp. Siêu âm đánh giá nội mạc tử cung vào 2 ngày sau tiêm hCG. Nếu nội mạc tử cung dày ≥7mm và có hình ảnh đẹp, cho estrogen và progesterone, sau đó chuyển phôi tương tự như trên. Ưu điểm  Áp dụng được cho những bệnh nhân có chống chỉ định sử dụng nội tiết tố ngoại sinh.  Có hiệu quả ở những bệnh nhân không đáp ứng với phác đồ uống thuốc ngoại sinh nội mạc tử cung mỏng, xấu.  Cho hình ảnh nội mạc tử cung đẹp hơn sau khi tiêm hCG cơ chế chưa rõ. Khuyết điểm  Bệnh nhân phải sử dụng thuốc kích thích buồng trứng. Dù là kích thích nhẹ, vẫn có nguy cơ quá kích buồng trứng.  Hầu như không hiệu quả đối với bệnh nhân suy hoặc giảm dự trữ buồng trứng. Ngày CK 1 2 …... 9 10 11 12 13 14 15 16 17 ……… 31 KTBT liều 75-100 IU hCG Siêu âm NMTC Chuyển phôi Thử thai Estrogen và Progesterone Chuẩn bị nội mạc tử cung bằng kích thích buồng trứng tương tự IVM THỰC TẾ LÂM SÀNG Lựa chọn phác đồ Trên thực tế, với một trung tâm thụ tinh trong ống nghiệm, qui trình điều trị là một khâu rất quan trọng, cần thiết lập để có thể điều trị cho một số lượng lớn bệnh nhân trong cùng một thời điểm. Việc xác định thứ tự lựa chọn phác đồ cần được thống nhất thành qui trình nhằm đồng bộ sự lựa chọn giữa các bác sĩ, dễ áp dụng cho tất cả bệnh nhân, dễ theo dõi và đặc biệt là chủ động được thời điểm siêu âm cũng như chuyển phôi cho bệnh nhân để cân đối hoạt động của đơn vị điều trị. Chính vì vậy, phác đồ sử dụng nội tiết tố ngoại sinh thường là phác đồ được chọn lựa đầu tiên cho bệnh nhân để chuyển phôi trữ nhờ tính linh động của nó và có thể áp dụng được cho gần 100% trường hợp. Trong trường hợp nội mạc tử cung xấu, quá dày tăng sinh nội mạc tử cung hoặc thường bị ứ dịch, có thể lựa chọn một trong hai phác đồ còn lại để chuẩn bị nội mạc tử cung. Trong những trường hợp này, cần người có kinh nghiệm theo dõi, không phải do nguyên nhân từ phía phác đồ điều trị, mà từ phía nội mạc tử cung, vì thời điểm quyết định nội mạc tử cung nào là thuận lợi nhất trở nên rất quan trọng ở những bệnh nhân có nội mạc tử cung xấu. Tỉ lệ có thai Cho đến nay, các phân tích tổng quan hệ thống cho thấy tỉ lệ có thai giữa 3 phác đồ chuẩn bị nội mạc tử cung trên là tương đương. Thời điểm quyết định chuyển phôi Hầu hết các nghiên cứu đều báo cáo thời điểm quyết định chuyển phôi là khi nội mạc tử cung đạt 7-8mm trở lên, mà không nêu tiêu chuẩn về hình ảnh nội mạc tử cung, do đánh giá hình ảnh nội mạc tử cung là đánh giá khá chủ quan. Hình hạt cà phê được xác định là hình ảnh nội mạc tử cung thuận lợi nhất để chuyển phôi, tuy nhiên, trên thực tế, không phải bệnh nhân nào cũng đạt được hình ảnh này. Trong những trường hợp chuẩn bị nội mạc tử cung khó do nội mạc tử cung mỏng hoặc có hình ảnh xấu, thông thường chúng ta phải chuẩn bị nội mạc tử cung qua nhiều chu kỳ khác nhau và bằng nhiều phác đồ khác nhau, nhằm tìm ra độ dày và hình ảnh nội mạc tử cung tối ưu nhất mà bệnh nhân có thể đạt được, từ đó xác định thời điểm chuyển phôi phù hợp. Các biến chứng có thể gặp Chuẩn bị nội mạc tử cung để chuyển phôi trữ hiếm khi có biến chứng. Những trường hợp thuyên tắc mạch do sử dụng estrogen ngoại sinh hiện nay hầu như không còn, do estrogen được sử dụng với liều thấp tăng dần, được giảm liều khi cho progesterone vào thời điểm quyết định chuyển phôi và ngưng hoàn toàn khi bệnh nhân có thai. Cần thận trọng khi chuẩn bị nội mạc tử cung bằng phương pháp kích thích buồng trứng, dù với liều rất thấp, do kích thích buồng trứng có thể gây ra nguy cơ quá kích buồng trứng, đặc biệt là sau khi tiêm hCG KẾT LUẬN Hiện có 3 phác đồ chính để chuẩn bị nội mạc tử cung trong chuyển phôi trữ lạnh, trong đó, phác đồ sử dụng nội tiết ngoại sinh được áp dụng phổ biến nhất vì khá đơn giản, chi phí thấp, can thiệp ít, có thể áp dụng được trên hầu hết mọi đối tượng, chủ động được thời gian theo dõi và chuyển phôi. Trong một số trường hợp đặc biệt, khi bệnh nhân có chống chỉ định hoặc không đáp ứng với phác đồ dùng thuốc nội tiết ngoại sinh, có thể sử dụng phác đồ theo dõi chu kỳ tự nhiên hoặc kích thích buồng trứng. Nhìn chung, việc lựa chọn phác đồ nào là phù hợp phải dựa trên từng bệnh nhân cụ thể. Nên xem xét thêm vấn đề kinh tế của bệnh nhân, đồng thời cần khai thác tiền căn các bệnh lý liên quan có thể bị ảnh hưởng bởi việc dùng thuốc, nhằm hạn chế đến mức tối thiểu các nguy cơ cho bệnh nhân khi điều trị cũng như chọn được phác đồ phù hợp, giúp tối ưu hóa khả năng có thai cho bệnh nhân. TÀI LIỆU THAM KHẢO CHÍNH 1. Ghobara T, Vandekerckhove P. Cycle regimens for frozen-thawed embryo transfer. Cochrane Database Syst Rev. 2008 Jan 23;1CD003414. 2. Kay Elder, Brian Dale. Implantation and early stages of fetal development. In “In-Vitro Fertilization”, third edition, 2011, chapter 6, pp 82-92. Nội tiết tố progesterone là một hormone tự nhiên liên quan đến độ dày niêm mạc tử cung trong cơ thể người phụ nữ. Khi mang thai, hormon này sẽ tăng lên tự nhiên để thích ứng với sự phát triển của thai nhi trong tử cung. Tuy nhiên, ở một số trường hợp, khi chỉ số progesterone cao có thể dẫn đến một loạt các phản ứng không mong muốn. 1. Nguyên nhân khiến progesterone cao Chỉ số progesterone cao thường gặp ở phụ nữ mang thai. Khi bào thai phát triển, nồng độ progesterone cũng tăng lên. Trong thời kỳ mang thai, nếu mức progesterone tăng quá cao có thể gặp phải tình trạng đa thai sinh đôi, sinh ba,....Những nguyên nhân phổ biến làm chỉ số progesterone cao ở phụ nữThay đổi chu kỳ kinh nguyệt kéo dài giai đoạn hoàng thểGiảm nồng độ estrogen trong cơ thểBổ sung quá nhiều progesterone progesterone uống hoặc qua daBổ sung quá mức với tiền chất hoặc tiền chất progesterone khácCác vấn đề liên quan đến tuyến thượng thận, cũng như sự mất cân bằng hormone ra khi chỉ số progesterone tăng, nguyên nhân cũng có thể tiềm ẩn một số bệnh lý như u nang buồng trứng, thai ngoài tử cung, ung thư buồng trứng. 2. Biểu hiện khi progesterone cao Mệt mỏi, lảo đảo khi thức dậy là biểu hiện của progesterone tăng cao Các triệu chứng này xuất hiện quá nhiều khi chỉ số progesterone cao, nhưng không phải là quá mức giới hạn cho phép. Mức độ hơi cao có thể đến từ việc uống nhiều progesterone hoặc trong giai đoạn hoàng thể của chu kỳ kinh triệu chứng phổ biến nhưBiến động cân nặng thường tăng cân nhẹ 5-10 cân.Buồn ngủ, thức dậy lảo đảo hoặc mệt giác chán nản nhưng không quá trầm giác bất ổn về thể chất, hơi chóng mặt, lo lắng hoặc chỉ cảm thấy căng nước, đầy đổi ham muốn tình dục thường giảm ham muốn tình dục.Những triệu chứng ít phổ biến hơn và thường chỉ xảy nếu chỉ số progesterone cao hơn quá mức cho phépCơ thể nóng bừng do quá tải các thụ thể estrogenMất ngủTăng khẩu vịLo lắng quá mức hoặc hoảng loạnPhiền muộnTăng cân đáng kểNếu có các dấu hiệu liên quan đến vấn đề cân bằng hormone, bác sĩ có thể chỉ định làm xét nghiệm progesterone để kiểm tra. Thời gian để thực hiện xét nghiệm progesterone là 7 ngày trước khi có kinh nguyệt hoặc 7 ngày sau khi trứng rụng. Đây là thời điểm có thể phát hiện mức progesterone cao. 3. Các xét nghiệm đánh chỉ số progesterone cao Kiểm tra biểu đồ nhiệt độ nền cơ thể BBTLà quá trình ghi lại nhiệt độ cơ mỗi ngày để nắm bắt thông tin liên quan đến chu kỳ kinh khi rụng trứng, ở phụ nữ có tình trạng tăng nhiệt độ cơ thể nhưng ổn định và tăng nhiệt độ không đều hoặc liên tục cao, có thể có chỉ số progesterone dài thời gian của giai đoạn hoàng thể luteal phaseNếu thời gian rụng trứng ít hơn 11 ngày trước khi có kinh, đây có thể là dấu hiệu của khiếm khuyết liên quan đến giai đoạn hoàng trứng có thể được phát hiện thông qua việc sử dụng một thiết bị dò rụng trứng, hoặc biểu đồ tra hormone tuyến nước bọtCác xét nghiệm nội tiết có thể được thực hiện thông qua kiểm tra nước khi phân tích nước bọt, phòng xét nghiệm có thể xác định được mức progesterone cao hay tra lượng hormone có trong máu Mặc dù xét nghiệm hormone từ nước bọt có thể tiện ích và không xâm nhập, nhưng xét nghiệm chỉ số hormone có trong máu giúp xác định một số thông tin quan trọng của cơ thể bạn. 4. Cách điều trị khi chỉ số progesterone cao Có thể duy trì sự cân bằng của hormone bằng việc xây dựng lối sống khỏe mạnh như tập thể dụng thường xuyên Điều trị progesterone cao phần lớn phụ thuộc vào nguyên nhân gây ra. Vì vậy cần phải làm các xét nghiệm progesterone để xác định được nguyên nhân làm chỉ số progesterone cao từ có có hướng điều trị thích pháp thay thế hormoneHình thức trị liệu này liên quan đến việc sử dụng thuốc chứa hormone để giải quyết sự mất cân bằng của lưu ý rằng liệu pháp thay thế hormone có nhiều tác động tiêu cực và có thể làm tăng nguy cơ hình thành cục máu đông, ung thư vú, đột quỵ và bệnh pháp thảo dượcMột số phụ nữ có thể muốn thử các liệu pháp thảo dược để kiểm soát các triệu chứng liên quan đến mức progesterone cao. Hai loại thảo mộc có khả năng hiệu quả nhất làCác loại thảo mộc chứa phytoestrogen, chẳng hạn như thiên ma black cohosh, cung cấp hợp chất estrogen từ thực vật cho cơ thể, giúp loại trừ sự mất cân bằng loại thảo mộc không chứa estrogen, như macafem, hỗ trợ các tuyến nội tiết tăng sản xuất ý, không được tự ý sử dụng các loại thảo dược này khi chưa được sự chỉ định của bác đổi lối sống để duy trì sự cân bằng của hormoneTập thể dục thường uống lành mạnh, ăn các thực phẩm làm tăng lượng estrogen cho cơ thể như đậu nành, anh đào, khoai tây, lúa mì, gạo, với các thực hành giảm stress như thiền và có các dấu hiệu nghi ngờ progesterone cao, bạn nên lựa chọn một địa chỉ thăm khám uy tín. Các bác sĩ sẽ kiểm tra và có thể chỉ định bạn thực hiện xét nghiệm để đánh giá nồng độ progesterone. Các phương pháp điều trị vô sinh Hi vọng cho những cặp vợ chồng vô sinh, hiếm muộn XEM THÊM Các triệu chứng của u tuyến thượng thận Ung thư tuyến thượng thận Nguyên nhân và triệu chứng Các dấu hiệu và triệu chứng của ung thư tuyến thượng thận Progesterone là một phần quan trọng trong điều trị vô sinh, với các chuyên gia về sinh sản thường kê đơn bổ sung progesterone để giúp cải thiện tỷ lệ mang thai của thụ tinh trong ống nghiệm IVF. Một nghiên cứu mới đã chỉ ra rằng có thể có những ảnh hưởng sinh sản từ chỉ số progesterone của người phụ nữ trong các giai đoạn cụ thể của chu kỳ IVF. 1. Khả năng sinh sản và Progesterone Progesterone là một loại hormone được sản xuất bởi buồng trứng. Nó xuất hiện vào giữa chu kỳ kinh nguyệt khi trứng được phóng ra rụng trứng. Một trong những chức năng quan trọng nhất của progesterone là chuẩn bị niêm mạc tử cung nội mạc tử cung để cho phép trứng được thụ tinh phôi cấy chu kỳ điều trị IVF thành công đòi hỏi thời gian chính xác cho từng bước của các giai đoạnGiai đoạn kích thích nơi nhiều nang trứng đang trưởng đoạn thu hồi nơi trứng trưởng thành được đoạn thụ tinh trong đó trứng được thụ tinh với tinh trùng trong phòng thí đoạn quan sát và phát triển trong đó mỗi phôi được theo dõi chặt chẽ trong phòng thí nghiệm phôi trong 3-6 cùng, giai đoạn chuyển phôi, trong đó phôi chất lượng tốt được chuyển trở lại vào tử cung của người phụ như chỉ số progesterone tại thời điểm kích hoạt hCG tăng lên, bác sĩ có thể đóng băng tất cả phôi vào ngày thứ 5. Mục đích của việc này là cho phép buồng trứng của bạn trở lại trạng thái nghỉ ngơi và có thể chính xác hơn thời gian chuyển phôi để tối đa hóa xác suất chuyển thành công. 2. Progesterone trong hỗ trợ hoàng thể Trong chu kỳ IVF, thuốc thường được sử dụng để ngăn bạn giải phóng trứng sớm rụng trứng sớm nhằm hỗ trợ hoàng thể. Những loại thuốc này ảnh hưởng đến chỉ số progesterone. Do đó, bác sĩ có thể kê toa một chất bổ sung progesterone để bù cho sự suy giảm khả năng sản xuất progesterone này của buồng lĩnh vực ứng dụng của progesterone trong hỗ trợ hoàng thể gồm mỗi progesterone có lĩnh vực ưu thế riêngBổ sung progesterone trong pha hoàng thể ngoài sinh sản nhằm hỗ trợ trong bối cảnh có ít sự thay đổi trong điều hòa sung progesterone trong pha hoàng thể sinh sản nhằm hỗ trợ trong bối cảnh có sự thay đổi mạnh trong điều hòa gene hoặc trong bối cảnh thay đổi mạnh chức năng hoàng sung progesterone trong sảy thai có nguyên nhân do suy hoàng thể và sảy thai liên tiếp trong bối cảnh của mất cân bằng tế bào cách đó, phôi có thể cấy và phát triển bên trong tử cung. Nhiều nghiên cứu khoa học đã xem xét tỷ lệ mang thai trong các chu kỳ IVF sử dụng progesterone. Những nghiên cứu đã chỉ ra rằng tỷ lệ này cao hơn nhiều so với các chu kỳ không sử dụng progesterone. Có nghiên cứu chỉ ra rằng tỷ lệ mang thai trong các chu kỳ IVF sẽ cao hơn nếu sử dụng progesterone Các nghiên cứu đã cho thấy sự phát triển chậm của phôi có thể làm giảm tỷ lệ có thai, đây cũng có thể là yếu tố cho sự giảm chất lượng phôi hoặc khả năng dị bội. Chúng dẫn đến sự không đồng bộ giữa phôi và nội mạc tử cung, dẫn đến giảm khả năng làm tổ của tăng chỉ số progesterone trong IVF sớm có tác động làm giảm tỷ lệ sinh sống ở các chu kỳ hỗ trợ sinh sản sử dụng noãn tự thân, có thể do sự không đồng bộ giữa phôi và nội mạc tử cung. Có rất ít nghiên cứu đánh giá tác động của sự tăng chỉ số progesterone vào ngày gây trưởng thành noãn lên tỷ lệ sinh sống của những ca được chuyển phôi ngày 5 so với ngày cứu này hồi cứu dữ liệu từ 4120 bệnh nhân được chuyển phôi ngày 5 và 230 bệnh nhân chuyển phôi ngày 6, sử dụng noãn tự thân, từ năm 2011 đến năm đó, bệnh nhân được chuyển phôi vào ngày 6 có ít phôi tốt hơn 73% so với 83%, p thấp hơn nhưng tỷ lệ phôi nang được chuyển là tương đương giữa 2 nhóm 92% so với 91%, p bằng lệ sinh sống ở nhóm chuyển phôi ngày 6 thấp hơn nhóm được chuyển phôi vào ngày 5 34% so với 46%, p bằng tích số liệu cho thấy chỉ số progesterone cao hơn ng/ml vào ngày gây trưởng thành noãn có tác động rõ rệt ở nhóm chuyển phôi ngày 6 so với phôi vào ngày 5 p thấp hơn lệ sinh sống ở nhóm chuyển phôi ngày 6 chỉ thấp hơn 8% so với phôi vào ngày 5 ở nhóm có chỉ số progesterone bình thường nhưng sự chênh lệch này tăng lên 17% khi chỉ số progesterone cao hơn ng/ đó p là trị số biểu thị sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giúp các nhà khoa học quyết định giả thuyết của họ đúng hay sai. Trị số p được sử dụng để xác định liệu kết quả thí nghiệm có nằm trong dãy giá trị thông thường của các trường hợp được quan tương quan phân tích được giữa chỉ số progesterone và ngày chuyển phôi được chứng minh là có ý nghĩa thống kê, cho thấy chỉ số progesterone có tác động rõ rệt lên việc chuyển phôi vào ngày 6. Trong các chu kỳ chọc hút có chỉ số progesterone cao, phôi sau đó được trữ lạnh và chuyển phôi trữ không cho thấy sự khác biệt giữa nhóm ngày 5 và ngày cứu này đã chỉ ra được sự không đồng bộ giữa phôi và nội mạc tử cung khi phôi phát triển chậm có thể là những nguyên nhân kết hợp để dẫn tới giảm tỷ lệ sinh sống. Ngoài ra, sự tăng chỉ số progesterone trong IVF sớm còn là một nhân tố tiên đoán cho sự giảm tỷ lệ sinh sống ở bệnh nhân được chuyển phôi ngày 6. Có nghiên cứu cho rằng, việc tăng progesterone trong IVF sớm là nhân tố tiên đoán cho sự giảm tỷ lệ sinh sống ở bệnh nhân chuyển phôi ngày 6 Chỉ số progesterone trong IVF được theo dõi, khi bệnh nhân bị kích thích. Nếu mức độ của hormone này trở nên quá cao trước khi kích hoạt, bác sĩ nội tiết sinh sản có thể đề nghị tất cả các phôi của bệnh nhân sẽ được đông lạnh và lưu lại cho một chu kỳ IVF đưa ra quyết định đóng băng phôi vì chỉ số progesterone tăng sớm chỉ có thể được đưa ra gần cuối chu kỳ IVF. Bác sĩ theo dõi mức độ progesterone chặt chẽ và nếu nhìn thấy sự gia tăng, họ sẽ quyết định chiến lược cho bệnh nhân và chia sẻ nó với bệnh nhân. Đôi khi, chuyển phôi có thể là lựa chọn tốt, trong khi vào thời điểm khác, quyết định có thể là chuyển phôi không đông cứng để tạo cơ hội cho chúng cấy ghép. Các phương pháp điều trị vô sinh Hi vọng cho những cặp vợ chồng vô sinh, hiếm muộn XEM THÊM Dấu hiệu rối loạn nội tiết tố nữ Tăng sinh nội mạc tử cung và nguy cơ ung thư Tổng quan về buồng trứng

chỉ số progesterone trước khi chuyển phôi